Áp lực thanh khoản rõ nét từ quý IV/2025
Năm 2025 là năm có ý nghĩa đặc biệt, là năm tăng tốc, bứt phá, về đích, cũng là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 của Việt Nam.
Cuối quý I/2025, Quốc hội và Chính phủ đã quyết định điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm lên mức 8% trở lên, thay vì mức 6,5 - 7% ban đầu, đòi hỏi cả hệ thống chính trị phải vào cuộc. Để đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng Nhà nước đã đề ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng tối thiểu 16%.
Năm qua, cơ sở pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng tiếp tục được hoàn thiện theo hướng kiến tạo, thể hiện sự đột phá trong tư duy quản lý.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đề ra mục tiêu “Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, bảo đảm yêu cầu quản lý và khuyến khích đổi mới sáng tạo, loại bỏ tư duy “không quản được thì cấm”".
Đây là một bước tiến quan trọng, bởi vấn đề pháp lý được xem là vướng mắc chính cản trở quá trình chuyển đổi số của ngành ngân hàng Việt Nam.
Ngày 17/6/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 94/2025/NĐ-CP quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng.
Văn bản này thiết lập khuôn khổ pháp lý cho việc thử nghiệm các mô hình, sản phẩm, dịch vụ mới ứng dụng công nghệ trong 3 lĩnh vực là: chấm điểm tín dụng; chia sẻ dữ liệu qua giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API); cho vay ngang hàng (P2P Lending).
Đối với hoạt động xử lý nợ xấu, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 15/10/2025 đã chính thức luật hóa một số cơ chế quan trọng từng được áp dụng trong giai đoạn Nghị quyết 42 của Quốc hội về xử lý nợ xấu có hiệu lực (2017 - 2023), giúp tăng tốc quá trình xử lý nợ xấu của các ngân hàng.
Đối với an toàn hệ thống tổ chức tín dụng, Thông tư 14/2025/TT-NHNN ban hành ngày 30/6/2025 lần đầu đưa ra quy định về các bộ đệm vốn, gồm bộ đệm bảo toàn vốn (CCB), bộ đệm vốn phản chu kỳ (CCyB) và bộ đệm vốn cho các ngân hàng thương mại có tầm quan trọng hệ thống, đồng thời hướng dẫn cách tính tài sản có rủi ro tín dụng theo phương pháp tiêu chuẩn và phương pháp xếp hạng nội bộ, cập nhật các yêu cầu cho rủi ro hoạt động theo hướng dẫn mới của Ủy ban Basel, quy định về thu thập và xử lý dữ liệu tổn thất… nhằm hướng tới việc đáp ứng các tiêu chuẩn Basell III.
Hoạt động giám sát hệ thống cũng được cải thiện theo hướng chuẩn hóa, minh bạch và tiệm cận thông lệ quốc tế khi Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 21/2025/TT-NHNN, thiết lập hệ thống xếp hạng các tổ chức tín dụng dựa trên các phương pháp định lượng và định tính theo chuẩn Basel III.
Đối với quy định về thanh khoản, ngày 15/5/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 08/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 22/2019, trong đó nổi bật là cho phép tính lại 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào mẫu số của tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR), thay vì loại trừ hoàn toàn như quy định áp dụng từ đầu năm 2026.
Một số điều chỉnh khác về thị trường tài sản mã hóa, thị trường vàng, trung tâm tài chính quốc tế (IFC), thị trường các-bon cũng tạo thêm nhiều cơ hội kinh doanh mới trong năm 2026.
Mặc dù đạt được những kết quả tích cực (hỗ trợ cho tăng trưởng GDP đạt 8,02% và lạm phát được kiểm soát tốt ở mức 3,31%), nhưng do tín dụng được điều chỉnh tăng, huy động vốn không tăng với tốc độ tương ứng, đã tạo áp lực lên thanh khoản hệ thống ngân hàng.
Tăng trưởng tín dụng cả năm 2025 đạt 19,07%, cao hơn so với định hướng 16% ban đầu của Ngân hàng Nhà nước và là mức tăng cao nhất trong 5 năm trở lại đây.
Tăng trưởng tín dụng luôn cao hơn tăng trưởng tiền gửi từ năm 2021 đến tháng 4/2026, khiến chênh lệch tuyệt đối giữa tín dụng và tiền gửi tăng dần, đến hết tháng 4/2026 ước khoảng 2,06 triệu tỷ đồng, gây áp lực lên thanh khoản hệ thống ngân hàng.
Bên cạnh đó, chênh lệch cân đối kỳ hạn giữa tín dụng và huy động vốn cũng khiến rủi ro thanh khoản trên hệ thống ngân hàng gia tăng.
Tín dụng trung, dài hạn năm 2025 tăng 26 - 27%, trong khi tín dụng ngắn hạn chỉ tăng 14% do tín dụng bất động sản tăng cao (năm 2025, tăng cao hơn nhiều so với tín dụng chung) thường là các khoản cho vay trung, dài hạn.
| |
Tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động vốn (%), 2021-T4/2026. |
| |
Chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và tiền gửi (triệu tỷ đồng), T12/2021-T4/2026. |
Ngược lại, huy động vốn chủ yếu là ngắn hạn, khiến chênh lệch kỳ hạn gia tăng. Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn tại thời điểm cuối năm 2025 đã tiệm cận ngưỡng giới hạn của Ngân hàng Nhà nước (30%).
Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu, nguyên nhân khiến huy động vốn tăng chậm và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt trong năm 2025 tăng lên có thể do khu vực hộ kinh doanh tăng giao dịch tiền mặt trong giai đoạn đầu thực hiện cơ chế mới về hóa đơn, chứng từ (Nghị định số 70/2025/NĐ-CP, Nghị định số 181/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế Giá trị gia tăng…).
Một số nguyên nhân khác mang tính cấu trúc, có thể kể đến như:
Thứ nhất, thu ngân sách Nhà nước có nhiều thời điểm tăng đột biến, làm một phần tiền gửi của Kho bạc Nhà nước chuyển từ hệ thống tổ chức tín dụng về Ngân hàng Nhà nước, tạo ra thiếu hụt thanh khoản cục bộ trên thị trường liên ngân hàng.
Thứ hai, nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng rút vốn khỏi các thị trường chứng khoán châu Á nói chung, trong đó có Việt Nam (năm 2025, nhà đầu tư nước ngoài bán ròng 5,2 tỷ USD trên thị trường chứng khoán Việt Nam và tiếp tục bán ròng 1,2 tỷ USD trong quý I/2026).
Thứ ba, các tổ chức tín dụng chủ động mua lại trái phiếu trước hạn và giảm phát hành mới do nền lãi suất tăng.
Thứ tư, các kênh đầu tư khác (như vàng, bạc, ngoại tệ, chứng khoán, bất động sản, tài sản mã hóa…) có tỷ suất sinh lời hấp dẫn hơn so với lãi suất gửi tiết kiệm, khiến nhu cầu thanh khoản cho giao dịch các loại tài sản này tăng cũng khiến áp lực thanh khoản của hệ thống tăng.
Mặt bằng lãi suất khá ổn định trong 3 quý đầu năm 2025, nhưng tăng nhanh từ tháng 10/2025 đến nay. Theo Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 4/2026, lãi suất tiền gửi bình quân ở mức khoảng 6%/năm, tăng khoảng 0,77%/năm so với đầu năm. Lãi suất cho vay cũng có xu hướng tăng do chi phí vốn tăng lên.
Tuy nhiên, sau cuộc họp với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 9/4/2026, một số ngân hàng đã giảm lãi suất cho vay, nhưng vẫn trong xu hướng thận trọng. Đến cuối tháng 4/2026, lãi suất cho vay đối với các giao dịch mới ở mức khoảng 8,38%/năm, tăng khoảng 0,3% so với cuối năm 2025 nhưng giảm 0,44% so với các năm trước.
Bên cạnh nguyên nhân chính là áp lực thanh khoản hệ thống, chiến sự tại Trung Đông khiến giá năng lượng tăng cao, đẩy lạm phát thế giới và Việt Nam tăng từ tháng 3/2026, khiến Fed và nhiều ngân hàng trung ương trì hoãn giảm lãi suất, gây áp lực nhất định đối với mặt bằng lãi suất Việt Nam khi Ngân hàng Nhà nước phải đảm bảo kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá.
Lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng thương mại niêm yết đạt 356.000 tỷ đồng trong năm 2025, tăng 19,1% so với năm trước, cao hơn mức tăng 17,2% của năm 2024.
Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất thấp và tín dụng tăng nhanh khiến các chỉ tiêu hiệu quả như NIM và chênh lệch lãi suất đầu ra - đầu vào bình quân giảm (lần lượt đạt 3,04% và 2,72%, tương ứng với mức giảm 0,26 điểm % và 0,27 điểm % so với năm 2024).
Trong quý I/2026, lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết đạt 94.204 tỷ đồng, tăng 14,2% so với cùng kỳ, tuy nhiên có sự phân hóa mạnh.
Các ngân hàng lớn với tiềm lực vốn vững chắc, năng lực quản trị rủi ro hiệu quả và cơ cấu nguồn thu đa dạng tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực như BIDV, VietinBank, Vietcombank... Ngược lại, không ít ngân hàng quy mô vừa và nhỏ ghi nhận sự sụt giảm về lợi nhuận như SeABank, Eximbank, Saigonbank...
Vừa ổn định tỷ giá, lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
Năm 2026, hệ thống ngân hàng dự báo tiếp tục bám sát định hướng điều hành chính sách của Đảng, Nhà nước, nhưng cũng chịu tác động lớn bởi các rủi ro bên ngoài. Nghị quyết Đại hội Đảng XIV và Kết luận 18 ngày 2/4/2026 – Hội nghị BCHTW lần thứ 2 – Khóa XIV kiên định yêu cầu đạt mức tăng trưởng GDP bình quân 10% trở lên, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế (gồm cả chống khủng hoảng kinh tế) trong giai đoạn 2026 - 2030.
Do đó, nhu cầu vốn đầu tư để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng là rất cao (tăng 11 - 12%/năm, tương đương 38 - 40% GDP, từ mức 33,3% GDP giai đoạn trước), tiếp tục tạo sức ép không nhỏ lên hệ thống ngân hàng về cả huy động vốn và cho vay.
Lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng tăng lên do áp lực thanh khoản, khiến chênh lệch lãi suất VND - USD ngắn hạn năm 2026 cao hơn năm 2025, VND được định giá hấp dẫn hơn. Dự báo trong năm 2026, tỷ giá tăng khoảng 1,5 - 2,5%.
| |
Tỷ lệ tiền mặt lưu thông/tổng phương tiện thanh toán (%), 2024-T1/2026. |
Bên cạnh nguồn cung ngoại tệ cải thiện do chênh lệch lãi suất, dòng vốn đầu tư gián tiếp (FII) vào Việt Nam dự báo tăng khi thị trường chứng khoán được FTSE Russell chính thức nâng hạng từ tháng 9/2026.
Mặc dù vậy, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới vẫn ở mức cao (cuối tháng 4/2026 ở mức khoảng 19 - 20 triệu đồng/lượng) có thể thúc đẩy hoạt động nhập lậu vàng và nhu cầu USD trên thị trường phi chính thức (tỷ giá USD/VND tự do trong 4 tháng đầu năm có nhiều thời điểm tăng cao, đến cuối tháng 4/2026 đang cao hơn 1,7% so với tỷ giá liên ngân hàng).
Trong khi đó, nhập siêu cả hàng hóa và dịch vụ đã xuất hiện (theo Cục Thống kê, Việt Nam nhập siêu 7,11 tỷ USD giá trị hàng hóa trong 4 tháng đầu năm và nhập siêu 1,67 tỷ USD giá trị dịch vụ trong 3 tháng đầu năm) khiến áp lực tỷ giá vẫn khá lớn, trong khi dư địa can thiệp của chính sách tiền tệ khá hạn chế khi dự trữ ngoại hối cuối năm 2025 ở mức thấp (khoảng 2,1 tháng nhập khẩu, thấp hơn nhiều mức khuyến nghị tối thiểu là 3 tháng nhập khẩu của IMF).
Áp lực lãi suất tăng trong năm 2026 vẫn khá lớn do nhu cầu tín dụng ở mức cao (để đáp ứng hơn 50% nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế), nhưng Fed dự báo chỉ hạ lãi suất 1 lần hoặc giữ nguyên trong năm 2026, khiến mặt bằng lãi suất USD còn cao, tiếp tục gây áp lực lên tỷ giá.
Ngoài ra, các kênh đầu tư khác (như vàng, bạc, ngoại tệ, chứng khoán, bất động sản, tài sản mã hóa…) vẫn hấp dẫn, buộc các tổ chức tín dụng phải tăng lãi suất huy động vừa để giữ vốn, vừa đáp ứng nhu cầu tín dụng. Trong khi đó, chính sách ổn định hoặc giảm mặt bằng lãi suất của Ngân hàng Nhà nước đang gặp thách thức rất lớn do vừa phải ổn định giá trị đồng VND, kiểm soát lạm phát, vừa phải hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Dù lãi suất tăng nhưng nhu cầu tín dụng vẫn khá lớn để đáp ứng nhu cầu đầu tư nhiều dự án, công trình trọng điểm quốc gia. Một số doanh nghiệp sản xuất cũng tăng vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu bù đắp chi phí đầu vào gia tăng (đặc biệt là logistics, nguyên vật liệu, nhân công, mặt bằng…) và tăng dự trữ hàng tồn kho với kỳ vọng giá còn tăng; đáp ứng nhu cầu mới như đầu tư kho bãi cho dự trữ năng lượng, các dự án năng lượng tái tạo, truyền tải điện, sản xuất…
Bên cạnh đó, doanh nghiệp bất động sản vẫn tiếp tục có nhu cầu vốn lớn (vì đang triển khai nhiều dự án lớn cùng một lúc), tiếp tục tạo áp lực lên cân đối nguồn vốn của hệ thống ngân hàng. Trong khi đó, huy động vốn tăng khá chậm khiến áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu.
Rủi ro nợ xấu cũng có thể gia tăng do tình hình sản xuất - kinh doanh gặp khó khăn trước tác động từ cuộc chiến tại Trung Đông. Mặt khác, lãi suất tăng cũng tạo thêm áp lực tài chính đối với khu vực doanh nghiệp, bên cạnh áp lực về giá nguyên vật liệu đầu vào.
Trên thị trường bất động sản, phân khúc cao cấp có dấu hiệu chững lại (do giá bán quá cao, lãi suất vay mua nhà tăng, kiểm soát tín dụng bất động sản…) cũng tác động không nhỏ đến khả năng chi trả và giá trị tài sản thế chấp của hệ thống ngân hàng.
Lợi nhuận của ngành ngân hàng dự báo tiếp tục tăng trưởng ổn định trong năm 2026. Mặc dù tăng trưởng tín dụng thấp hơn năm 2025, nhưng các mảng hoạt động khác như thu ngoài lãi, thu từ xử lý nợ xấu dự báo cải thiện nhờ những thay đổi trong môi trường pháp lý.
Một số rủi ro chính đối với tăng trưởng lợi nhuận năm 2026 có thể kể đến: giá bất động sản tăng chậm/giảm trong năm 2026 có khả năng tác động đến chất lượng tài sản và chi phí dự phòng rủi ro; chiến sự tại Trung Đông kéo dài có thể làm tăng lạm phát, chi phí vận tải, logistics tăng có thể ảnh hưởng đến chi tiêu của người dân và hoạt động của doanh nghiệp, qua đó tác động đến tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận của hệ thống ngân hàng.
Một số kiến nghị
Căn cứ vào các phân tích ở trên, nhóm nghiên cứu kiến nghị Chính phủ chỉ đạo, Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ngành thực hiện đồng bộ các nhóm chính sách sau:
Một là, phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, trong đó chính sách tài khóa phải là chủ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; chính sách tài khóa bổ trợ theo hướng thận trọng, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với nhau và với các chính sách vĩ mô để đảm bảo vừa ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ứng phó linh hoạt với biến động thế giới và thúc đẩy tăng trưởng.
Hai là, đẩy mạnh giải ngân đầu tư công ngay từ đầu năm để dòng tiền chuyển dịch trực tiếp vào khu vực doanh nghiệp, làm giảm áp lực thanh toán và hạn chế tình trạng vốn nhàn rỗi nằm tại tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại Ngân hàng Nhà nước, hỗ trợ thanh khoản của hệ thống ngân hàng.
Ba là, để giảm tỷ lệ tiền mặt/tổng phương tiện thanh toán, Bộ Tài chính cần tăng cường các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hộ kinh doanh khi thực hiện Nghị định 70/2025/NĐ-CP, Nghị định 181/2026/NĐ-CP và các quy định khác về hóa đơn điện tử, về kê khai thuế, hướng dẫn thuế VAT…, phối hợp đồng bộ với Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ngành, địa phương thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trên phạm vi toàn nền kinh tế.
Bốn là, thực hiện các giải pháp hỗ trợ phía cung, bao gồm giãn, hoãn, giảm thuế các ngành, lĩnh vực chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi chiến sự tại Trung Đông, quyết liệt tháo gỡ các dự án tồn đọng, ách tắc, tăng tốc hoàn các khoản thuế, phí (như thuế VAT) để góp phần khơi thông nguồn lực, cải thiện dòng tiền và năng lực tài chính của doanh nghiệp, giảm bớt áp lực tín dụng cho hệ thống ngân hàng.
Trong dài hạn, cần đẩy mạnh phát triển thị trường vốn thông qua phát triển thị trường chứng khoán, vận hành Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) và phát triển các thị trường phái sinh hàng hóa, phái sinh tài chính để các doanh nghiệp có thêm công cụ phòng ngừa rủi ro.
Năm là, đối với chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước cần ưu tiên cân bằng giữa tỷ giá - lãi suất theo hướng giữ ổn định mặt bằng lãi suất, vừa điều hành tỷ giá linh hoạt, kết hợp nhiều công cụ can thiệp kịp thời thị trường nhằm giảm áp lực tỷ giá.
Để đảm bảo thanh khoản ngắn hạn, tiếp tục sử dụng các công cụ như giao dịch OMO, tái cấp vốn và các công cụ khác để giữ ổn định thanh khoản, tránh sốc lãi suất liên ngân hàng, đặc biệt là tái cấp vốn cho các lĩnh vực ưu tiên dự án hạ tầng trọng điểm, chuyển đổi xanh và các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh thiết yếu.
Để giảm rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng, tín dụng nên được định hướng vào lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên như xuất khẩu, logistics, năng lượng và các ngành bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chi phí đầu vào tăng; đồng thời, kiểm soát chặt tín dụng vào các lĩnh vực rủi ro cao để tránh bất ổn tài chính.
Tín dụng bất động sản cần được định hướng rõ nét hơn (khuyến khích tín dụng nhà ở phù hợp với khả năng chi trả của người dân, bất động sản khu công nghiệp, logistics…; hạn chế cho vay đầu cơ mua đất nền, nhà ở phân khúc giá cao…).
Sáu là, để giải phóng và tái phân bổ hiệu quả nguồn lực cho toàn hệ thống tổ chức tín dụng cần đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém (gồm cả SCB), giúp giảm hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trong cho vay và huy động vốn, nhất là tại một số tổ chức tín dụng nhỏ, yếu kém.
Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện cho phép các ngân hàng thương mại nhà nước được ưu tiên tăng vốn từ toàn bộ nguồn lợi nhuận để lại và các nguồn khác, đẩy nhanh tiến độ phê duyệt phương án tăng vốn của các tổ chức tín dụng, vừa đáp ứng nhu cầu vốn lớn, vừa đảm bảo an toàn, đáp ứng yêu cầu Basel III, nhất là trong bối cảnh rủi ro gia tăng như hiện nay.
Ngoài ra, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước cần sớm ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn triển khai Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi 2025), đặc biệt đối với các quy định liên quan đến xử lý nợ xấu; phối hợp Bộ Tài chính sớm thành lập thị trường mua bán nợ (gồm cả nợ xấu), cho phép bán nợ xấu dưới giá trị sổ sách; qua đó, nâng cao hiệu quả thu hồi nợ, giải phóng nguồn lực, giảm thiểu rủi ro hệ thống và lành mạnh hóa hoạt động ngân hàng.
Bảy là, chủ động theo dõi các diễn biến liên quan đến rủi ro gắn mác “thao túng tiền tệ” theo Điều khoản 301 của Mỹ; đẩy nhanh tiến độ thực hiện Nghị định 232/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 24/2012/NĐ-CP nhằm tăng cường quản lý và ổn định thị trường vàng; đồng thời, tiếp tục triển khai các giải pháp đồng bộ để thu hẹp chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế, qua đó hạn chế tình trạng buôn lậu vàng, giảm áp lực lên tỷ giá và góp phần ổn định thị trường ngoại hối.