Bài toán đa ngành

(ĐTCK) Mới đây, thông tin về việc đang có đề nghị thành lập một tập đoàn kinh tế trong lĩnh vực thực phẩm từ một tổng công ty không hoạt động trong lĩnh vực này khiến những băn khoăn về vị trí của ngành nghề kinh doanh chính trong tập đoàn kinh tế nhà nước lại nổi lên. Tuy nhiên, những lấn cấn này chắc chưa thể ngã ngũ khi các khái niệm về lĩnh vực kinh doanh chính và phụ đến giờ vẫn rất mông lung.

Thực tế, phần lớn tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam đều được hình thành từ các tổng công ty nhà nước trong một số lĩnh vực có điều kiện, có thế mạnh và khả năng phát triển. Một cách hiểu đương nhiên là lĩnh vực kinh doanh của các tổng công ty nhà nước đó chính là ngành nghề kinh doanh chính của tập đoàn kinh tế. Và như vậy, cách hiểu về đa ngành trong mô hình này vẫn theo hình thức là mở rộng sang những ngành phụ trợ cho ngành kinh doanh chính.

Mấu chốt vấn đề ở chỗ, những sự đương nhiên này lại không có một cơ sở pháp lý để ràng buộc hoạt động của các tập đoàn kinh tế. Chính vì vậy, nguyên tắc tập đoàn kinh tế là phải kinh doanh đa ngành, phải được kinh doanh tài chính, đầu tư ra ngoài ngành được nhiều tập đoàn kinh tế khai thác tốt đa. Sự mở rộng thái quá, thiếu giám sát của chủ sở hữu nhà nước thời gian qua đã gây nên những bất ổn trong hoạt động của mô hình này khi nó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngành nghề chính. Thậm chí, đã có ý kiến cho rằng, chính hoạt động thiếu giám sát này đã làm méo mó hình ảnh về tập đoàn kinh tế nhà nước.

Tuy vậy, cũng phải nói lại rằng, rất khó cho các tập đoàn khi hàng loạt câu hỏi như thế nào là ngành nghề kinh doanh chính, thế nào là ngành nghề phụ trợ, thế nào là ngành nghề không có liên quan… hoàn toàn chưa có câu trả lời. Hơn thế, việc xác định ngành nghề của tập đoàn dựa trên lĩnh vực hoạt động của công ty mẹ hay các công ty con, hoặc toàn bộ công ty mẹ - công ty con như thế nào… cũng không rõ ràng. Với thực tiễn này thì việc "bắt bài" tập đoàn này đầu tư ngoài ngành, tập đoàn kia không đảm bảo nhiệm vụ kinh doanh chính có lẽ khó thuyết phục, thậm chí còn làm khó cho chính các tập đoàn kinh tế.

Bà Vũ Thị Hồng Loan, chuyên gia tài chính doanh nghiệp cho rằng, không nên nhầm lẫn ngành nghề kinh doanh của các công ty con với công ty mẹ trong tập đoàn. "Thực tế, công ty mẹ trong tập đoàn kinh tế của Việt Nam chủ yếu là đầu tư vào các công ty con, công ty liên kết. Không nhiều các công ty mẹ trực tiếp hoạt động kinh doanh. Như vậy, việc xác định ngành nghề kinh doanh của công ty mẹ chỉ xác định đối với lĩnh vực mà công ty mẹ trực tiếp kinh doanh. Ví dụ, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam phải tập trung đầu tư vào các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực điều tra, khảo sát, thăm dò, khai thác dầu khí. Tập đoàn Điện lực Việt Nam thì tập trung đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, truyền dẫn, phân phối điện", bà Loan phân tích và kiến nghị, nên quy định tỷ lệ vốn mà công ty mẹ trong tập đoàn phải đầu tư. Tất nhiên, tỷ lệ này sẽ phải phụ thuộc vào tính chất, quy mô của từng tập đoàn, chứ không thể có một tỷ lệ áp dụng chung cho tất cả.

Như vậy, có thể hiểu rằng, sự giám sát về ngành nghề kinh doanh của chủ sở hữu nhà nước đối với các tập đoàn sẽ chỉ tới những công ty con có vốn chi phối của công ty mẹ. Còn những công ty "cháu", công ty liên kết… có thể hoạt động trong các lĩnh vực khác không liên quan với lĩnh vực kinh doanh chính. Vấn đề là phải giám sát được hoạt động của các lĩnh vực phụ này không ảnh hưởng đến lĩnh vực kinh doanh chính. Và một yêu cầu cần được làm rõ là thế nào là không ảnh hưởng…

Đợt khảo sát mới đây của các chuyên gia Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho thấy, vẫn chưa có sự thống nhất về ảnh hưởng của đầu tư đa ngành trong mô hình tập đoàn. Lý do được nhiều người đưa ra là chưa lượng hoá được mức độ ảnh hưởng. Hơn thế, khá nhiều tập đoàn đang đòi hỏi "quyền kinh doanh các lĩnh vực mà pháp luật không cấm".

Ông Trần Tiến Cường, Trưởng ban Nghiên cứu đổi mới doanh nghiệp (CIEM) cho rằng, quan điểm chung là về logic thì việc đầu tư đa ngành sẽ làm giảm tỷ trọng đầu tư vào ngành, lĩnh vực kinh doanh chính. Và khi đó, năng lực ngành kinh doanh chính sẽ bị ảnh hưởng so với trường hợp chỉ đầu tư chuyên ngành. Tuy nhiên, không phải tập đoàn nào cũng vậy. "Một lý do quan trọng là hiện nay chủ sở hữu nhà nước chưa giao nhiệm vụ cụ thể về kết quả và hiệu quả của ngành, lĩnh vực chính. Như vậy thì chưa thể đánh giá được việc thực hiện nhiệm vụ của tập đoàn theo tiêu chí là ngành, lĩnh vực kinh doanh chính", ông Cường nói.

Như vậy, lời giải của bài toán chính và phụ có lẽ không quá khó nếu như vai trò giám sát và thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước được thực hiện rõ ràng thông qua các tiêu chí, quy định cụ thể về tỷ lệ đầu tư, thị phần, hiệu quả kinh doanh của tập đoàn đối với các ngành nghề kinh doanh chính. Đương nhiên, kèm theo đó là yêu cầu tập đoàn kinh tế phải có nghĩa vụ báo cáo và chịu sự giám sát của đại diện chủ sở hữu nhà nước về đầu tư, hiệu quả đầu tư và tác động của việc kinh doanh các ngành nghề phụ đến các ngành nghề chính.

Bảo Duy
Bảo Duy

Tin cùng chuyên mục