“Cầm cương” lạm phát

(ĐTCK-online) Với mức tăng 12,63% năm 2007 và hơn 6% trong 2 tháng đầu năm 2008, lạm phát kỳ vọng năm nay đang trở thành bài toán làm đau đầu không chỉ cơ quan điều hành mà cả DN và người dân. Ngày 3/3/2008, Chính phủ đã có Công văn 319/TTg-KTKH về tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm phát năm 2008. Lạm phát đang ở mức độ nào, các biện pháp kiềm chế đã đủ mạnh? Tại cuộc tọa đàm "Lạm phát- nguyên nhân, thực trạng và giải pháp" do Báo Đầu tư tổ chức ngày 19/3 với sự tham gia của các chuyên gia kinh tế - tài chính hàng đầu Việt Nam đã phần nào giải đáp các câu hỏi này.
Các bộ, ngành cần lựa chọn những lĩnh vực, dự án có hiệu quả để bơm tiền, không nên thắt chặt tất cả

Nhận diện

Theo GS.TS Nguyễn Mại, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về hợp tác đầu tư, Việt Nam đã từng có một lịch sử khống chế lạm phát rất tốt. Năm 1990, lạm phát 67%; năm 1992 giảm xuống 5,2%, giai đoạn 1996 -2003 chỉ là 3%/năm. Tuy nhiên, đến năm 2004, con số này là 9,5% và năm 2007 lên đến trên 12%... Như vậy, kể từ năm 1992, mức độ lạm phát hiện nay là cao nhất. "Mức lạm phát này là không bình thường nhưng cũng không phải là hiện tượng riêng có của Việt Nam trong quá trình phát triển. Ở Trung Quốc vào giữa thập niên 90 của thế kỷ trước, lạm phát cũng lên tới 20%/năm. Nói như vậy không phải lấy nước khác để giảm nhẹ tình hình lạm phát ở Việt Nam ; mà phải thấy rằng, lạm phát cao nhưng có thể tìm được giải pháp kiềm chế để dần ổn định tình hình", GS Mại nhận định.

Trong bối cảnh hội nhập và nền kinh tế đang vận hành theo cơ chế thị trường, lạm phát tăng do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Khách quan là do giá cả thế giới tăng cao theo nguyên tắc "bình thông nhau". Trong khi đó, ở trong nước thì thiên tai, dịch bệnh, các vấn đề xã hội khiến Nhà nước phải chi tiêu bất thường trong năm 2007 lớn hơn khá nhiều so với các năm trước.

Tuy nhiên, GS Nguyễn Mại đã lượng hóa rất cụ thể là, trong số 12,6 % lạm phát năm 2007 có khoảng 4% là nguyên nhân khách quan, còn lại là nguyên nhân chủ quan, mà trước hết xuất phát từ điều hành chính sách tiền tệ. Từ năm 2003 đến năm 2007, doanh số bán lẻ tăng 20%/năm nhưng lượng hàng hóa cung cấp ra thị trường chỉ tăng 10%, cho thấy mất cân đối cung - cầu.

Ngoài ra, còn do việc đầu tư không hiệu quả mà chủ yếu là đầu tư nhà nước. Đầu tư do nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước do các DNNN thực hiện hiệu quả rất thấp. Năm 2007, chỉ số Icor lên tới 4,5 quá cao so với các nước. Việc chi tiêu công tăng trong thời gian qua cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến lạm phát. "Không thể chống lạm phát nếu không thắt chặt chi tiêu", GS Mại khẳng định.

TS. Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ chiến lược NHNN chia sẻ quan điểm, tình trạng lạm phát hiện nay chủ yếu do nguyên nhân chủ quan. PGS. TS Nguyễn Văn Nam,Viện Nghiên cứu Thương mại cũng đồng tình với ý kiến trên khi cho rằng, một trong nhiều nguyên nhân của lạm phát là do đầu tư không hiệu quả, dàn trải, đầu tư theo kiểu xin - cho. Theo ông Nam , nền kinh tế thị trường luôn vận động nên lạm phát xảy ra cũng là điều bình thường. Tuy nhiên, để lên đến mức cao như hiện nay là điều không bình thường.

T.S Đinh Văn Ân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế Trung ương chỉ ra rằng, lạm phát có nguyên nhân của việc nhập siêu. Đơn cử, việc giảm thuế nhập khẩu đối với ôtô đã khiến loại hàng xa xỉ này tràn vào với số lượng lớn và hút một lượng tiền không nhỏ. Bên cạnh đó, năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO nên phải gánh chịu hầu hết những tác động tích cực cũng như tiêu cực của tình hình kinh tế thế giới. Ông Ân nói một cách hình ảnh: "cũng như cơ thể con người, bình thường thì không sao nhưng khi bị trái gió, trở trời thì phát bệnh". Trong bối cảnh đó, việc điều hành chính sách giá cả không hợp lý cũng khiến lạm phát tăng lên.

 

Cần một giải pháp đồng bộ

Mặc dù đang ở mức cao nhưng các chuyên gia đều chung nhận định, lạm phát vẫn ở mức có thể kiềm chế được. Vấn đề là các giải pháp đưa ra như thế nào?

Các giải pháp chống lạm phát được NHNN đưa ra nhằm hút tiền từ lưu thông về theo các chuyên gia là đúng, bởi nhiều nền kinh tế có mức lạm phát cao cũng đã thực hiện như vậy. Tuy nhiên, liều lượng và cách làm cần phải tính toán thận trọng. Chẳng hạn việc phát hành tín phiếu hút tiền về với mức lãi suất 7,8% cũng là một áp lực đối với chính NHNN trong việc trả lãi suất cho các ngân hàng. Hoặc việc hút lượng tiền lớn từ lưu thông không chỉ khiến các NH gặp khó khăn mà bản thân các DN cũng lao đao. "Các DN xuất khẩu đang gặp khó khăn lớn. Chi phí đầu vào tăng do giá cả tăng và lãi suất tăng. Thu nhập từ xuất khẩu lại giảm do VND lên giá so với  USD", TS. Lê Xuân Nghĩa nói. Có thể nói trì trệ sản xuất là một nguy cơ  nhãn tiền. Một số DN đã không nhận thêm đơn hàng, giãn nhân công vì lo lắng sản xuất không hiệu quả.

Để hạn chế tình trạng trên và duy trì tốc độ tăng trưởng, theo Theo TS Ngô Trí Long, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường giá cả, cần phải xác định những ngành nào là mũi nhọn, đưa ra các chính sách đặc biệt để cấp vốn duy trì hoạt động bình thường. Các bộ, ngành cần lựa chọn những lĩnh vực để “bơm” tiền chứ không thể để tất cả cùng chịu khó khăn từ việc thắt chặt chính sách tiền tệ.

Trên thực tế, Chính phủ đã nhận ra sự nguy hiểm của các dự án đầu tư không hiệu quả và đưa lên đầu trong nhóm giải pháp chống lạm phát là: "đặc biệt quan tâm nâng cao hiệu quả việc sử dụng vốn đầu tư, nhất là lĩnh vực đầu tư công; xem xét lại những công trình, dự án đọng vốn quá lâu, thiết kế ban đầu không còn phù hợp nữa hoặc công trình đầu tư kém hiệu quả; đình hoãn hoặc dãn những công trình chưa thật cần thiết".

Sau khi phân tích nguyên nhân, GS Nguyễn Mại cho rằng cần điều chỉnh, sửa đổi một số chính sách vĩ mô, xem xét lại toàn bộ chủ trương đầu tư công, đầu tư của các tập đoàn kinh tế để tránh tình trạng dàn trải, lãng phí, tiết kiệm chi tiêu. Trong khi đồng tình với các giải pháp lớn nêu trong Công văn 319 của Thủ tướng Chính phủ,  G.S Mại cho rằng một số giải pháp cần được cụ thể hóa hơn để có thể thực hiện hiệu quả.

Theo TS Ngô Trí Long, cội rễ sâu xa, căn bản nhất của tình trạng lạm phát hiện nay là năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất thấp. Khả năng cạnh tranh của DN thấp do chi phí đầu vào tăng cao dẫn đến giá cả biến động. Ông Long cho biết, giải pháp kiềm chế lạm phát nêu trong Công văn 319 của Chính phủ là đúng hướng và mạnh mẽ. Cần định hướng cơ bản, giải quyết thấu đáo vấn đề lạm phát bằng cách các cấp, ngành có đề án, giải pháp cụ thể.

Các giải pháp kiềm chế chống lạm pháp theo TS Lê Xuân Nghĩa cần có độ trễ. "Việc chống lạm phát nằm trong tầm tay của Chính phủ nếu xử lý các vấn đề khéo léo, không gây sốc. Nếu đến tháng 5, tháng 6 có kết quả tích cực, chính sách tiền tệ sẽ được nới lỏng. Lúc đó, các DN có thể tiếp cận nguồn vốn thuận lợi hơn, sản xuất - kinh doanh phát triển trở lại và TTCK sẽ đi lên", ông Nghĩa hy vọng.

Thanh Đoàn
Thanh Đoàn

Tin cùng chuyên mục