Chính sách tiền tệ cạn dư địa nới lỏng

(ĐTCK) Những biến số mới từ bên ngoài đang tạo thêm thách thức cho việc giữ ổn định mặt bằng lãi suất ở mức thấp và tăng trưởng tín dụng cao để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Huy động vốn chậm hơn cho vay đang tạo áp lực lên thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Thanh khoản hệ thống đang gặp áp lực

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Thanh Hà cho biết, với chức năng là huyết mạch của nền kinh tế, ngành ngân hàng có trách nhiệm huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất - kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng; hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng; đồng thời, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.

NHNN dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 ở mức 15%, có điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế. Tuy vậy, ông Hà cũng thẳng thắn nhìn nhận, bối cảnh hiện nay còn không ít khó khăn, thách thức với công tác điều hành chính sách tiền tệ.

Cũng theo Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà, nhu cầu vốn cho nền kinh tế rất lớn, nhưng khả năng hấp thụ vốn của một số khu vực, lĩnh vực còn hạn chế. Việc mở rộng tín dụng phải gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát rủi ro, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn hệ thống.

Cùng với đó, tình hình kinh tế - chính trị thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro, biến động khó lường, tạo thêm sức ép cho công tác điều hành lãi suất và tỷ giá. Năm 2025 được kỳ vọng là giai đoạn kinh tế thế giới phục hồi khi lạm phát hạ nhiệt, các ngân hàng trung ương có xu hướng nới lỏng chính sách tiền tệ, tuy nhiên, bước sang năm 2026, cục diện nhanh chóng thay đổi sau khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát từ cuối tháng 2.

Đây là biến động mà không một ngân hàng trung ương hay tổ chức kinh tế nào có thể lường trước, làm gia tăng đáng kể áp lực lạm phát toàn cầu cũng như khiến triển vọng kinh tế thế giới trở nên bất định hơn.

Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN cho hay, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026 - 2031 ước tính lên tới 38,5 triệu tỷ đồng; riêng năm 2026 vào khoảng 5,1 triệu tỷ đồng, trong đó, nhu cầu vốn tín dụng dự kiến vào khoảng 1,8 triệu tỷ đồng.

Con số này vẫn nằm trong định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% mà NHNN đặt ra. Vấn đề là, các tổ chức tín dụng đang gặp nhiều khó khăn trong việc huy động nguồn lực để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng tín dụng nói trên. Tại thời điểm cuối tháng 3/2026, quy mô huy động vốn bằng VND đang thấp hơn quy mô tín dụng khoảng 2 triệu tỷ đồng.

Từ góc nhìn của ông Lê Thanh Tùng, Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank, thanh khoản hệ thống đang gặp áp lực do tình trạng tăng trưởng tín dụng nhanh hơn so với tăng trưởng vốn kéo dài.

Thời gian qua, NHNN đã sử dụng linh hoạt các công cụ điều hành để giữ ổn định thanh khoản hệ thống, cũng như mặt bằng lãi suất, tỷ giá nhưng những diễn biến phức tạp từ thị trường quốc tế đã và đang tạo áp lực lớn đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ.

Thực tế cho thấy, dưới áp lực của thanh khoản, từ cuối quý IV/2025, các ngân hàng thương mại đã bước vào cuộc đua nâng lãi suất huy động để thu hút tiền gửi. Mặt bằng lãi suất tiết kiệm ngân hàng dù đã được điều chỉnh sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước vào đầu tháng 4/2026 nhưng đã tăng đáng kể so với giai đoạn 2024 - 2025.

Chính sách tiền tệ không còn nhiều dư địa

Thông tin được bà Phạm Thị Thanh Tùng chia sẻ, hoạt động tín dụng ngân hàng gặp nhiều thách thức, đáng chú ý là bối cảnh kinh tế bên ngoài, gián đoạn nguồn cung, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, chính sách thuế đối ứng, xung đột quân sự, giá năng lượng và chi phí vận tải leo thang... Việc đẩy mạnh tín dụng sẽ tiếp tục tạo áp lực lên hệ thống ngân hàng trong việc cân đối nguồn vốn huy động để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cũng như tiềm ẩn những rủi ro cho hệ thống.

Dư địa chính sách tiền tệ hiện nay không còn nhiều. Ðể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần phát huy mạnh hơn vai trò của chính sách tài khóa.

TS. Nguyễn Phi Lân Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ tài chính, NHNN

Đồng quan điểm, TS. Châu Đình Linh, giảng viên Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM cho rằng, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% năm nay đối mặt với những áp lực, thách thức không nhỏ từ nội tại nền kinh tế.

“Một trong những dấu hiệu đáng lo ngại nhất là tỷ lệ tín dụng trên GDP hiện đã vượt ngưỡng 140%. Trong khi đó, chuẩn an toàn thông thường cho chỉ số này chỉ nên duy trì quanh mức 90%”, ông Linh nhấn mạnh.

Việc nền kinh tế tiếp tục duy trì mức tăng trưởng tín dụng cao, trong khi đã vượt ngưỡng an toàn cho thấy sự phụ thuộc quá lớn vào hệ thống ngân hàng và điều này tiềm ẩn rủi ro mang tính hệ thống.

Theo ông Linh, chính sách tiền tệ năm 2026 được dự báo sẽ vận hành dựa trên tinh thần “khéo co thì ấm” - một phương châm nhấn mạnh sự linh hoạt và tính toán kỹ lưỡng trong bối cảnh nền kinh tế 2026. Đây không đơn thuần là việc thắt chặt hay mở rộng thêm, mà là một sự điều tiết tinh tế để đảm bảo nền kinh tế vừa có đủ nguồn lực để phát triển, vừa giữ được sự an toàn cần thiết trước các nguy cơ rủi ro.

Nhận định được TS. Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ tài chính, NHNN đưa ra, bối cảnh mới đang đặt ra nhiều sức ép lớn đối với mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế.

Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay, theo ông Lân, là áp lực lạm phát đang gia tăng rõ nét dưới tác động của xung đột tại Trung Đông. Lạm phát tháng 4/2026 đã tăng hơn 5% so với cùng kỳ năm trước, trong khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo lạm phát của Việt Nam cả năm 2026 có thể lên tới 4,9%, vượt mục tiêu 4,5% do Quốc hội đề ra.

Giá năng lượng leo thang không chỉ làm gia tăng chi phí sản xuất, vận tải mà còn tác động tới giá nhiều mặt hàng trong nước, đặc biệt là vật liệu xây dựng, từ đó tạo áp lực lớn lên kỳ vọng lạm phát và công tác điều hành chính sách tiền tệ.

Ngoài lạm phát, TS. Nguyễn Phi Lân cho rằng, Việt Nam đang đối mặt nguy cơ nhập siêu trở lại sau nhiều năm duy trì xuất siêu.

Điều này kéo theo áp lực lớn đối với tỷ giá, trong bối cảnh NHNN đồng thời phải thực hiện nhiều mục tiêu: kiểm soát lạm phát, hỗ trợ giảm lãi suất, ổn định thị trường ngoại hối. Đây là thách thức đối với ngân hàng trung ương không chỉ trong năm 2026, mà cả giai đoạn 2026 - 2030.

Trong bối cảnh hiện nay, NHNN khẳng định, ưu tiên lớn nhất của ngành ngân hàng là giữ ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Muốn đạt tăng trưởng cao, trước hết phải duy trì được các cân đối lớn của nền kinh tế. Nếu không kiểm soát tốt lạm phát thì tăng trưởng dù cao cũng khó tạo ra giá trị gia tăng thực chất.

Dư địa chính sách tiền tệ hiện nay không còn nhiều, vì vậy, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ông Lân cho rằng, cần phát huy mạnh hơn vai trò của chính sách tài khóa. NHNN sẽ tập trung điều hành thanh khoản phù hợp, đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng và hỗ trợ nền kinh tế.

Bởi thanh khoản là yếu tố căn cơ và quan trọng nhất đối với hệ thống ngân hàng, chỉ khi đảm bảo thanh khoản thì hệ thống mới có thể thực hiện được các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác.

Nguyên Linh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục