Đâu là nguyên nhân của đợt sụt giảm giá chứng khoán lâu nay, thưa ông?
Có lẽ lý do chính vẫn là quy luật của thị trường, “hết nóng là lạnh”. Năm 2006 trào lưu lên, thì năm 2007 tất yếu phải xuống. Tất nhiên, có những nhân tố tác động làm chuyển hướng trào lưu. Năm 2007, nhà đầu tư cảm nhận được những yếu tố bất lợi như: thuế thu nhập từ đầu tư chứng khoán, mức dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán tối đa 3% tổng dư nợ của ngân hàng, giá vàng, lạm phát cao, kinh tế Mỹ có dấu hiệu suy thoái mạnh, thị trường tài chính thế giới đang có vấn đề…
Ông có nghĩ rằng, mở room cho nhà đầu tư nước ngoài và nới lỏng mức dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán ở mức 3% tổng dư nợ của ngân hàng lúc này là cần thiết?
Room 49% và mức dư nợ tối đa 3%, theo tôi, đó là những con số được đặt ra chủ yếu từ ý chí, chưa dựa trên các căn cứ kinh tế xác đáng. Muốn kiểm soát một công ty cổ phần đại chúng chỉ cần nắm 30% cổ phần là đủ. Do đó, 40%, 49%, hay trên 49% đều giống nhau cả. Theo lộ trình cam kết khi gia nhập WTO, sau năm 2010 sẽ không còn room, vì vậy cũng có thể mở room từng bước.
Nhưng một vấn đề hết sức cần thiết để ngăn chặn “thôn tính tiêu cực” thông qua cổ phiếu khi mở room, các công ty đại chúng phải biết phát hành cổ phiếu ưu đãi. Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu người sở hữu được hưởng các ưu đãi về tài chính, nhưng không được thực hiện quyền kiểm soát công ty. Nếu sử dụng tốt công cụ này thì room không là vấn đề gì cả. Trung Quốc có cổ phiếu B (cổ phiếu dành cho người nước ngoài giao dịch bằng ngoại tệ mạnh), lúc này với chúng ta có khi là một kinh nghiệm hay, vì nó vừa kiểm soát được quyền nắm giữ cổ phiếu, vừa tăng cầu cho TTCK từ vốn ngoại tệ và không làm tăng lạm phát.
Có ý kiến cho rằng, thị trường hiện nay cung đã vượt cầu, cần giãn tốc độ IPO?
Thị trường của ta vẫn đang thiếu “hàng lớn” cho các “đại gia”. Nếu cứ tiếp tục thực hiện IPO những công ty lớn, có danh tiếng và đưa vào niêm yết ngay, thị trường sẽ có thêm “hàng lớn, hàng chất lượng cao”, các tổ chức đầu tư lớn sẽ vào nhiều hơn, có thể thị trường được kích cầu, sẽ sôi động trở lại.
Giá vàng hiện nay đang là một bất lợi cho TTCK, thưa ông?
Gần một thế kỷ qua, thị trường tài chính thế giới phát triển, tạo ra giá trị ảo rất lớn cho các công cụ tài chính giao dịch trên thị trường. Giá trị tài chính ảo nếu ở trong một nền kinh tế tăng trưởng ổn định thì không có gì phải lo. Nhưng nếu kinh tế suy thoái, khủng hoảng thì nguy cơ nổ bong bóng là có thể. Để phòng ngừa hậu quả, các quốc gia đang tăng mức dự trữ ngoại hối và loại ngoại hối dự trữ chủ yếu là vàng, đó là nguyên nhân của giá vàng tăng.
Khi các quốc gia, tổ chức tài chính tăng mức dự trữ, tất yếu hoạt động đầu tư tài chính bị sút giảm. Trong tình hình đó, TTCK tất yếu bị ảnh hưởng. Nhưng đó là chuyện của thế giới. Với chúng ta, hoạt động kinh tế đang rất sôi động và phát triển ổn định, hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp cao, chưa có lý do để nhà đầu tư rút vốn khỏi TTCK để đưa vào dự trữ.
Lạm phát cao cũng là bất lợi cho TTCK phải không ông?
Nền kinh tế đang phát triển mạnh thì tất yếu phải có lạm phát, đó mới là tích cực, nhưng lạm phát phải ở mức kiểm soát được. Giá vàng cao nếu đi liền với lạm phát không kiểm soát được, tất yếu đến lúc nhà đầu tư sẽ phải tính toán đồng vốn đầu tư của mình.
Ông dự báo như thế nào về khả năng giá vàng hạ và kiểm soát lạm phát hiện nay?
Giá vàng sẽ hạ xuống khi các nền kinh tế lớn thoát khỏi dấu hiệu suy thoái, nguy cơ khủng hoảng tài chính toàn cầu được loại trừ.
Giải quyết vấn đề lạm phát hay suy thoái kinh tế ở những nước có cơ chế thị trường hoàn chỉnh không phải là một vấn đề quá khó khăn, bởi vì họ đã có một cơ chế và các công cụ điều hành vĩ mô rất hiệu nghiệm. Nhưng với chúng ta, cơ chế đó đang ở bước sơ khai, chưa đồng bộ, cho nên vấn đề trở nên nghiêm trọng.
Không thể giải quyết lạm phát bằng các mệnh lệnh hành chính, đã đến lúc cần tạo ra và sử dụng linh hoạt các công cụ điều tiết, cái van của hệ thống tài chính quốc gia.
Ông có thể cho biết một cách ngắn gọn các công cụ đó?
Có 3 loại công cụ mà thế giới thường sử dụng là dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở. Trong đó, lãi suất chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở là 2 công cụ điều hành hiệu quả nhất.
Để thiết lập cơ chế này, ngân hàng trung ương (NHTW) phát hành một loại chứng khoán đặc biệt, gọi là tín phiếu (hoặc chứng chỉ) NHTW, cấu thành một phần trong dự trữ bắt buộc. Ví dụ, dự trữ bắt buộc 10%, thì trong đó dự trữ bằng tín phiếu khoảng 4-5% và cho phép các ngân hàng thương mại (NHTM) được mua đi bán lại số tín phiếu này để giải quyết vốn trong thanh toán. Một NHTM nào đó, nếu ngày hôm nay có thu vào ít hơn chi ra, thiếu vốn, họ sẽ bán một phần tín phiếu để có tiền; ngược lại, thu vào lớn hơn chi ra, thừa vốn, họ sẽ mua tín phiếu về để lấy lời. Thị trường tiền tệ liên ngân hàng là nơi các NHTM giao dịch mua bán tín phiếu NHTW, đó là hoạt động điều hòa vốn ngắn hạn của nền kinh tế. Ta đã có thị trường này, nhưng chưa có công cụ giao dịch. NHTW cũng là một thành viên giao dịch trên thị trường này. NHTW sẽ mua tín phiếu về khi thấy cần phải bơm thêm tiền vào lưu thông, để giải quyết giảm phát, suy thoái kinh tế và thất nghiệp cao; và sẽ bán tín phiếu ra khi thấy cần phải thu bớt tiền từ lưu thông về, để giải quyết lạm phát.
Hiện nay, nói về lãi suất chiết khấu - công cụ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sử dụng, thực sự nhiều người không hiểu lắm. Ông có thể nói sâu hơn về vấn đề này?
Lãi suất chiết khấu là công cụ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), NHTW châu Âu và Nhật Bản thường xuyên sử dụng. Giả sử, mức dự trữ bắt buộc NHTW quy định 10%. Trên thị trường sẽ có ngân hàng do ưu thế nào đó, thường có nhu cầu tín dụng cao, mức cho vay lớn, dẫn đến thâm thủng dự trữ bắt buộc. Mỗi ngày bị thâm thủng dự trữ bắt buộc, NH đó phải trả cho NHTW một khoản tiền; tỷ lệ phần trăm (%) số tiền phải trả cho NHTW so với mức thâm thủng dự trữ bắt buộc gọi là lãi suất chiết khấu.
Khi NHTW hạ lãi suất chiết khấu, tức là NHTW muốn khuyến khích các NHTM tăng mức tín dụng cung ứng cho nền kinh tế, để tăng năng lực sản xuất, nhằm khắc phục suy thoái kinh tế và thất nghiệp (chính sách nới lỏng tín dụng). Ngược lại, khi NHTW muốn hạn chế tiền ra lưu thông, nhằm giải quyết vấn đề lạm phát, và phát triển kinh tế quá nóng, NHTW sẽ nâng lãi suất chiết khấu lên (thắt chặt tín dụng). Khi lãi suất chiết khấu cao ngang với lãi suất tín dụng bình quân, các NHTM sẽ hạn chế cung ứng tín dụng, không để thâm thủng dự trữ bắt buộc, vì khoản tín dụng vượt mức đó sẽ không có lời. Đây là công cụ điều hành kinh tế vĩ mô hiệu quả nhất, nhưng đáng tiếc chúng ta cũng chưa có.