Trả lời:
Giả định rằng, việc triệu tập cuộc họp ĐHCĐ bất thường trong trường hợp này là đúng theo quy định pháp luật, việc Công ty B (với tư cách là cổ đông của Công ty A) yêu cầu giấy ủy quyền phải là bản chính và có dấu đỏ của Công ty B là không phù hợp với quy định pháp luật.
Căn cứ Khoản 2, Điều 101, Luật Doanh nghiệp 2005 quy định về quyền dự họp ĐHCĐ: "Việc uỷ quyền cho người đại diện dự họp ĐHCĐ phải lập thành văn bản theo mẫu của công ty và phải có chữ ký theo quy định sau đây: (a) Trường hợp cổ đông là cá nhân là người uỷ quyền thì phải có chữ ký của cổ đông đó và người được uỷ quyền dự họp; (b) Trường hợp người đại diện theo uỷ quyền của cổ đông là tổ chức là người uỷ quyền thì phải có chữ ký của người đại diện theo uỷ quyền, người đại diện theo pháp luật của cổ đông và người được uỷ quyền dự họp; (c) Trong trường hợp khác thì phải có chữ ký của người đại diện theo pháp luật của cổ đông và người được uỷ quyền dự họp".
Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết trên Sở/TTGDCK kèm theo Quyết định số 15/QĐ-BTC ngày 19/3/2007 của Bộ Tài chính quy định: "Việc uỷ quyền cho người đại diện dự họp ĐHCĐ phải lập thành văn bản theo mẫu của công ty và phải có chữ ký theo quy định sau đây: (a) Trường hợp cổ đông cá nhân là người uỷ quyền thì phải có chữ ký của cổ đông đó và người được uỷ quyền dự họp; (b) Trường hợp người đại diện theo uỷ quyền của cổ đông là tổ chức là người uỷ quyền thì phải có chữ ký của người đại diện theo uỷ quyền, người đại diện theo pháp luật của cổ đông và người được uỷ quyền dự họp; (c) Trong trường hợp khác thì phải có chữ ký của người đại diện theo pháp luật của cổ đông và người được uỷ quyền dự họp".
Từ quy định pháp luật nêu trên, có thể thấy rằng, chỉ có Công ty A mới có quyền đưa ra mẫu ủy quyền cho người đại diện dự họp ĐHCĐ. Do đó, cổ đông là Công ty B ban hành mẫu giấy ủy quyền để buộc các cổ đông khác phải tuân theo mẫu đó là không đúng với quy định tại Điều 101, Luật Doanh nghiệp 2005 và Quyết định số 15.
Luật sư Nguyễn Vĩnh Ban - Công ty Luật hợp danh Luật Việt