Phát biểu khai mạc VBF 2012 diễn ra sáng 29/5, ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, Diễn đàn năm nay diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đã nhận diện thực tế khó khăn và đang có những động thái chính sách nhằm đưa nền kinh tế trở lại quỹ đạo tăng trưởng. Có thể nói, đây là thời điểm quan trọng để hành động và ý kiến đóng góp của các đối tác cũng như DN sẽ rất quan trọng trong việc hoạch định chiến lược phát triển.
Chủ tịch Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (EuroCham), ông Preben Hjortlund chia sẻ, trong khi các DN châu Âu vẫn hy vọng vào sự phát triển trong dài hạn của Việt Nam, thì lòng tin kinh doanh của họ trong ngắn và trung hạn có chiều hướng suy giảm. Trong năm qua, chỉ số môi trường kinh doanh hàng quý (BCI) của EuroCham tại Việt Nam đã giảm từ 70 điểm xuống còn 53 điểm và hiện chỉ xoay quanh mức này. Vậy đâu là lý do thật sự giải thích sự sụt giảm lòng tin này?
Ông Preben nhận định, đó là hậu quả của những tồn tại mang tính hệ thống của nền kinh tế Việt Nam vốn đã được nêu trong “Sách trắng” về môi trường kinh doanh tại Việt Nam năm ngoái chậm được giải quyết. Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Một ví dụ điển hình về việc áp dụng hai chính sách đó là trong ngành bán lẻ, khi mà quy định ENT (kiểm tra nhu cầu kinh tế) không áp dụng đối với nhà đầu tư trong nước, nhưng lại áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào dịch vụ bán lẻ. Đồng thời, sự khó khăn trong tiếp cận tín dụng, cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ và các gánh nặng về thủ tục hành chính vẫn tiếp diễn. Bên cạnh đó, một loạt vấn đề mới liên quan đến khả năng “tiếp cận thị trường” gây ảnh hưởng đáng kể đến việc nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam, đã tác động tiêu cực đến nhận định của các DN châu Âu về môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Đại diện Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham), ông Mark Gillin, Phó chủ tịch AmCham cho biết, trong những năm gần đây, cùng phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và các hiệp hội DN khác tại VBF, AmCham đã trình lên Chính phủ Việt Nam một số kiến nghị, cụ thể như về Luật Lao động sửa đổi và các vấn đề về mức lương tối thiểu; Luật Kiểm soát giá, Giấy phép lao động cho người nước ngoài, các vấn đề về chăm sóc y tế… Tuy nhiên, phản hồi đối với những kiến nghị này chưa được tích cực.
Trong khi những kiến nghị của các tổ chức này được nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam nhất trí, thì dường như việc bắt tay vào thay đổi trên thực tế lại khá chậm chạp. Việc chậm cởi bỏ những điểm nghẽn của nền kinh tế không chỉ khiến Việt Nam có nguy cơ rơi vào “cái bẫy thu nhập trung bình”, mà còn khó có khả năng cạnh tranh ngay cả trong vai trò “nhà máy đối tác” sản xuất các sản phẩm tiêu dùng có giá trị thặng dư thấp so với những thị trường mới nổi khác.
“Điều này có thể dẫn đến sự sụt giảm mạnh dòng vốn FDI khi các nhà đầu tư nước ngoài chuyển hướng, qua đó tác động đến hàng trăm ngàn công ăn việc làm tại Việt Nam”, ông Mark nhấn mạnh.
Ông Trần Anh Vương, Phó chủ tịch Hội DN trẻ Hà Nội nêu quan điểm, chính sách tiền tệ thắt chặt trong giai đoạn hậu khủng hoảng đã khiến cho chi phí vốn trở nên quá cao đối với DN. Nhiều DN nắm bắt cơ hội từ gói kích cầu của Chính phủ vào năm 2009 đã mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất, nhưng sau mấy năm vẫn gặp rất nhiều khó khăn do không tiếp cận được dòng vốn với chi phí hợp lý để duy trì quy mô sản xuất đã mở rộng. Toàn bộ lợi nhuận làm ra chỉ đủ hoặc không đủ để trả lãi vay, dẫn tới tình trạng hàng ngàn DN bị phá sản, hàng chục ngàn người lao mất việc làm.
“Gói hỗ trợ, giảm, giãn thuế mới đây của Chính phủ được tính toán là 29.000 tỷ đồng không đủ hấp dẫn và khó phát huy tác dụng, vì điểm mấu chốt bây giờ là phải kích cầu đầu ra. Phải tạo điều kiện để DN đưa sản phẩm ra thị trường, giải quyết hàng tồn kho, trước khi tính đến việc hỗ trợ giảm, giãn thuế”, ông Vương nhấn mạnh và cho rằng, “Chính phủ cần trợ giúp DN bằng nguồn tiền có lãi suất ưu đãi, dựa trên các tiêu chí về công nghệ và đảm bảo việc làm, chứ không chỉ nên dựa vào tiêu chí đánh giá ‘phương án kinh doanh có hiệu quả’ của các cán bộ thẩm định tại ngân hàng thương mại”.
Bên cạnh đó, ông Mark Gillin cũng cho rằng, AmCham tham gia VBF không chỉ nhằm kiến nghị Chính phủ Việt Nam công khai và nhất quán hơn trong các chính sách điều hành kinh tế, mà còn mong muốn WB, ADB và những tổ chức tham gia hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam công khai hơn các kế hoạch sẽ thực thi. AmCham cần biết một cách cụ thể hơn về kế hoạch hỗ trợ nào đã thực hiện; những trợ giúp bổ sung nào sẽ được triển khai và kết quả thực hiện đến đâu... Ví dụ như trong tháng 12/2009, ADB đã duyệt chi 630 triệu USD cho chương trình nâng cao hiệu quả quản trị và tái cấu trúc DNNN tại Việt Nam. Vậy đến nay đã có một tổng kết nào liên quan đến hiệu quả của chương trình này?
“Việc đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi, cổ phần hóa các DNNN, trong đó có các tập đoàn nhà nước lớn sẽ đem đến nhiều lợi ích trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của khối này. Đặc biệt, nó cũng tạo điều kiện thúc đẩy việc đối xử bình đẳng hơn giữa DNNN và DN tư nhân, từ đó nâng cao sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Chúng tôi mong chờ được đón nhận những thành tựu tích cực từ chương trình này cũng như những chương trình tương tự”, ông Mark nhấn mạnh.
Tại VBF 2012, những cụm từ như “minh bạch”, “rõ ràng”, “lòng tin”, “không ổn định” được Eurocham, AmCham và các định chế khác nhắc đến nhiều lần. Điều này cho thấy, khi mà bất ổn kinh tế vĩ mô đang tác động tiêu cực đến môi trường kinh doanh, thì một chính sách điều hành kinh tế minh bạch và nhất quán càng trở nên quan trọng và được trông đợi.
| Ông Vũ Văn Ninh, Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam
Nhờ xác định đúng mục tiêu và chủ động triển khai có hiệu quả các giải pháp đã đề ra, Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực trong kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô… Tuy nhiên, phải nhìn nhận một thực tế là những khó khăn, thách thức vẫn còn nhiều. Đó là tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp; lãi suất tuy đã giảm nhưng còn ở mức cao; khả năng tiếp cận và hấp thụ vốn của DN còn hạn chế; hoạt động sản xuất - kinh doanh trong một số lĩnh vực có biểu hiện ngưng trệ, lượng hàng tồn kho lớn… Với những thách thức nêu trên, yêu cầu đặt ra cho Chính phủ trong thời gian tới là phải tập trung giải quyết những khó khăn hiện tại, tiếp tục kiên định mục tiêu ổn định vĩ mô; đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa nhưng không làm lạm phát cao bùng phát, đồng thời đảm bảo an sinh xã hội...
Ông Seck Yee Chung, Phó chủ tịch Hiệp hội DN Singapore
Các NĐT Singapore vẫn tin tưởng vào triển vọng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam . Tuy nhiên, có những vấn đề ngắn hạn khiến chúng tôi quan ngại. Cụ thể là tính minh bạch; khả năng tiếp cận nguồn vốn; thủ tục về thuế và hải quan… NĐT cần tiếp cận thông tin một cách minh bạch, sự tin cậy và khả năng có thể dự báo của các động thái chính sách. Sự minh bạch sẽ giúp NĐT tiết giảm chi phí thời gian và các nguồn lực vật chất khác. Nó cũng là vũ khí hữu hiệu để chống tham nhũng và gian lận. Hiện nay, có một số thông tin gần như hoàn toàn không có hoặc ít nhất là rất khó để nắm bắt. Ví dụ như thông tin về quyền sử dụng đất, quy hoạch vùng, thủ tục phá sản DN… Việc tổ chức một hệ thống dịch vụ tra cứu, tìm kiếm thông tin hợp lý vừa giúp các cơ quan nhà nước thu được những khoản lệ phí hợp pháp cho việc cung cấp thông tin, vừa giảm cơ hội tham nhũng vì bất cân xứng thông tin.
Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Quốc gia WB tại Việt Nam
Trong một vài tuần gần đây, Việt Nam có lẽ đã chú trọng hơn tới thúc đẩy tăng trưởng, sau khi đạt được những kết quả nhất định về ổn định vĩ mô. Số liệu thống kê cho thấy, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam vài năm qua giảm dần so với giai đoạn trước đó. Điều này một phần vì những khó khăn của kinh tế thế giới, nhưng chủ yếu do sự chậm chạp trong việc thay đổi thể chế, sự thiếu hiệu quả trong từng bộ phận của nền kinh tế. Điều đó có nghĩa là Việt Nam đang thiếu những nguồn lực tăng trưởng mới dựa vào năng suất và hiệu quả. Sự chú ý đối với tăng trưởng hiện nay đang dồn nhiều vào các chính sách ngắn hạn, đặc biệt là chính sách tiền tệ. Về dài hạn, Việt Nam cần chú ý nhiều hơn tới các vấn đề mang tính thể chế, đặc biệt cần giúp khu vực tư nhân tham gia nhiều hơn vào việc tạo ra tăng trưởng.
Ông Phạm Đình Đoàn, Phó chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam
Đã không còn thời gian để suy tính quá nhiều trong việc tháo gỡ khó khăn cho DN. Do vậy, Chính phủ nên có những cuộc gặp gỡ cụ thể với các DN lớn trong từng lĩnh vực, để biết DN đề xuất gì, khó khăn gì, từ đó có sự hỗ trợ hợp lý. Khi DN còn “ngắc ngoải” thì vẫn có thể cứu được, nhưng vài tháng nữa có khi “chết” hàng loạt thì mọi sự trợ giúp sẽ trở nên quá trễ. Các hội thảo, hội nghị tổ chức tìm giải pháp hỗ trợ DN là điều tốt, nhưng điều quan trọng là tổ chức như thế nào cho hiệu quả, không chung chung và mỗi cuộc hội thảo phải đúng cơ quan quản lý, đúng DN. Đặc biệt, sau cuộc hội thảo cần phải có sự cam kết hay văn bản ghi nhớ. Chính vì vậy, theo tôi, khi DN đang phải chịu sức ép của thị trường, thì cơ quan quản lý cũng cần phải chịu sức ép triển khai những động thái chính sách đã hứa hẹn. |