Doanh nghiệp chủ động thích ứng với rủi ro

(ĐTCK-online) Cả 2 diễn giả của hội thảo "Chiến lược toàn cầu trong bối cảnh kinh tế hiện nay" do CTCK Dầu khí (PSI) tổ chức chiều 15/6 đều chia sẻ quan điểm, 6 tháng cuối năm, DN còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, vì thế thị trường vốn còn chịu tác động mạnh. Song thực tế này cũng mở ra những cơ hội đầu tư không kém phần hấp dẫn. Hội thảo thu hút hơn 300 khách tham dự là cá nhân, lãnh đạo các DN tại Việt Nam. Đây là hoạt động thường niên của PSI hỗ trợ các DN Việt Nam.

 

Khó khăn

Vừa từ Mỹ về Việt Nam, Tiến sỹ Trần Quang Vinh, giảng viên Đại học New York, Giám đốc điều hành Pinehill Capital LLC cho biết, kinh tế thế giới đang chứa đựng nhiều rủi ro. Đó là nỗi lo lạm phát, lãi suất tăng cao, tăng trưởng kinh tế chậm lại hoặc suy thoái. Diễn biến trên tạo ra vòng luẩn quẩn: đồng tiền mất giá, lãi suất tăng cao và lạm phát nhảy vọt.

Ông Vinh đề cập đến khía cạnh tâm lý trong lạm phát: "Lịch sử kinh tế Argentina vào thế kỷ 20 là một bài học đáng quan tâm. Tất cả mọi cố gắng đều có thể trở nên vô nghĩa nếu sai lầm trong quản lý tài chính". Ở một số nước, việc tiêu diệt siêu lạm phát không phải bằng giải pháp dùng siêu lãi suất. Đơn cử, ở Mỹ vào thập niên 1970, giải pháp kiềm chế lạm phát không phải bằng lãi suất cao, mặc dù mức lãi suất tại thời điểm đó rất cao. Để có thể phá vỡ vòng xoáy lạm phát, cần những hành động quyết đoán, bất ngờ, trên diện rộng để dập tắt tâm lý lạm phát. Tại Mỹ, thị trường đang lo lắng về sự trở lại của lạm phát, mặc dù lãi suất ở mức thấp kỷ lục.

Tại Việt Nam , viễn cảnh kinh tế 6 tháng tới sẽ ra sao? Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng, giá xăng dầu và giá điện, 2 yếu tố chính của lạm phát chưa có nhiều dấu hiệu cho thấy khả năng được kiềm chế, khi những bất ổn trên thị trường thế giới còn tiếp diễn. Lãi suất tín dụng đang tăng quá sức chịu đựng của DN, dẫn tới đình đốn sản xuất và nợ dây dưa kéo dài. Đáng ngại hơn là một số chính sách điều hành giật cục, khó dự đoán.

Theo ông Doanh, cần lưu ý 3 vấn đề. Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam thời gian qua tăng trưởng dựa chủ yếu vào đầu tư. So sánh chính sách tiền tệ tại Việt Nam với các nước khu vực giai đoạn 2004 - 2009 cho thấy, cung tiền M2 tại Việt Nam tăng 32,2%/năm, trong khi Trung Quốc là 19,4%, Indonesia 14,5%, Malaysia 15,1% và Thái Lan là 7%. Tương tự, tăng trưởng tín dụng giai đoạn trên tại Việt Nam là 37%/năm, trong khi các nước chỉ có 4,4 - 15%/năm. Điều này có thể dẫn đến một sự thay đổi về chính sách tiền tệ.

Thứ hai, 4 tháng đầu năm 2011, có khoảng 24.800 DN đăng ký kinh doanh, với tổng số vốn đăng ký xấp xỉ 142.900 tỷ đồng, giảm 9,6% về số DN và giảm 21,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2010. Điều này cho thấy, môi trường kinh doanh tại Việt Nam không còn dễ dàng.

Thứ ba, ngày 3/6/2011, Thủ tướng Chính phủ đã điều chỉnh các chỉ tiêu  năm 2011 như lạm phát dưới 15%/năm, tăng trưởng kinh tế 6%, bội chi ngân sách dưới 5% GDP... Đó là bước đi thực tế, linh hoạt, không câu nệ vào các chỉ tiêu đã không còn phù hợp. Rõ ràng, để đạt CPI 15% trong năm nay, trong khi CPI tính đến tháng 5 đã tăng 12,07%, thì lãi suất ngân hàng chưa thể giảm ngay. Các biện pháp về ngoại tệ (yêu cầu bán ngoại tệ, hạ lãi suất USD, nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc) tuy cần thiết, song có thể gây khó khăn cho nhà nhập khẩu có nhu cầu hợp lý và chính đáng.

 

Chủ động cứu mình

Ông Vinh cho rằng, các DN ở những nền kinh tế mới nổi cần chủ động quản lý rủi ro tín dụng và ngoại hối, sử dụng các biện pháp bảo hiểm trong thị trường ngoại hối và tín dụng. Ngoài ra, DN cần quan tâm đến những rủi ro trong hoạt động, quan tâm đến dòng tiền lưu chuyển, quản lý tốt tài sản. "Có dòng tiền lưu chuyển dương là hết sức cần thiết", ông Vinh nhấn mạnh. Đối với NĐT, nên xác định chịu đựng được bao nhiêu rủi ro, có thể lỗ bao nhiêu, nếu mất hết thì sẽ bị tổn hại thế nào. NĐT cần xây dựng cho mình chiến lược quản lý rủi ro, rủi ro phải được kiểm soát, kể cả lúc tốt và lúc xấu.

Theo ông Doanh, khó khăn chính là cơ hội để cải cách, tái cơ cấu DN. Đây cũng là lúc để DN điều chỉnh sản phẩm, thị trường phù hợp với điều kiện mới. Đơn cử, các DN trong khu vực đang tăng tốc xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc, do nhu cầu tiêu dùng tại đây tăng mạnh. Các DN cần tăng cường hợp tác, liên doanh liên kết để giảm chi phí sản xuất như cùng sử dụng địa điểm, vận tải, trang thiết bị… và tiết giảm nhu cầu vốn. Trong quản trị DN, người đứng đầu cần đối thoại thẳng thắn với toàn thể đội ngũ lao động, tranh thủ sự đồng thuận, phát huy sáng kiến, giải pháp, thậm chí chấp thuận những thua lỗ bước đầu để có thể cải cách lớn mạnh hơn. Ông Doanh nhấn mạnh, với các DN có tiềm lực vốn, đây là cơ hội để mua cổ phần, thâu tóm DN với chi phí thấp.

Ông Trần Quang Vinh, Giám đốc điều hành Pinehill Capital LLC

Trong các cuộc tiếp xúc với giới đầu tư nước ngoài, tôi nhận thấy họ quan tâm tới thị trường Việt Nam , song để họ gia nhập thị trường lại đòi hỏi rất nhiều điều kiện. Tùy theo mức độ rủi ro ở từng thị trường mà họ đặt ra tỷ suất lợi nhuận trên vốn bỏ ra, hiện bên Mỹ con số này chỉ cần 6 - 8% đã là rất tốt, song ở Việt Nam thì cần đòi hỏi mức cao hơn.

Với các NĐT nước ngoài, kinh tế vĩ mô là điều họ quan tâm. Trước đây, họ có thể không mấy quan ngại khi tăng trưởng kinh tế duy trì tốt, nhưng nay lạm phát tăng, trong khi tăng trưởng kinh tế giảm, 2 vấn đề cộng hưởng là câu chuyện khiến họ suy nghĩ. Sự quan tâm của NĐT nước ngoài với thị trường vốn Việt Nam tập trung nhiều nhất vào những năm 2004 - 2008, nay họ dừng lại xem xét trước những biến động, khó khăn thì Việt Nam sẽ làm gì, kinh tế được điều hành ra sao.

Để có thể thu hút đối tác nước ngoài, ở góc độ mỗi DN, yếu tố đầu tiên cần chú ý là quản trị minh bạch, sau đó là đội ngũ quản lý điều hành. Khi sổ sách rõ ràng, dễ hiểu thì người ta sẽ xem ban lãnh đạo công ty có gắn bó, tâm huyết với DN không, có vì lợi ích chung hay không. Ở giai đoạn này, đa số DN Việt Nam vẫn phụ thuộc vào xuất phát điểm là mô hình gia đình. Vì thế, hình thức liên kết có lẽ là phù hợp nhất, không chỉ hỗ trợ DN về vốn, mà còn giúp họ tiếp cận với thị trường toàn cầu.

 

Ông Lê Đăng Doanh, Chuyên gia kinh tế

Tình hình hiện nay chủ yếu là hệ quả của sự điều hành chưa hợp lý trong nhiều năm qua, chứ không phải trên trời rơi xuống, không phải do thế giới tác động vào. Chúng ta cần những giải pháp cụ thể để tái cơ cấu nền kinh tế, tăng hiệu suất, năng suất lao động của DN. Đơn cử, DN Việt Nam đang sử dụng nhiều điện năng gấp đôi so với DN Thái Lan để tạo ra 1 đơn vị GDP.

Mục tiêu của nền kinh tế được chỉ ra nhiều, nhưng NĐT lại chưa rõ chính sách thuế ra sao, tín dụng sẽ thế nào. Về ngắn hạn, tôi không thấy khả năng nới tín dụng cho chứng khoán, tuy nhiên có thể thấy khả năng nới lỏng tín dụng cho bất động sản một cách có chọn lọc. Cách thích ứng phù hợp nhất với DN hay NĐT lúc này là đề ra các chương trình hành động, có thứ tự ưu tiên và tập trung hoàn thành từng bước một: đánh nhỏ, thắng nhỏ, đánh chắc, thắng chắc.

 

Ông Quan Đức Hoàng, Tổng giám đốc A.I Capital

Mối quan tâm của những NĐT tổ chức hiện nay là khoản nợ trong các CTCK lên tới 20.000 tỷ đồng sẽ được giải quyết ra sao. Tại thị trường trong nước, dòng tiền thắt chặt do không còn room tín dụng, vì thế thị trường vốn Việt Nam sẽ trông chờ chủ yếu vào nguồn nước ngoài. Hiện tại, ngoài lạm phát tăng cao, rủi ro về tỷ giá vẫn khiến NĐT quan ngại.

Mới đầu tuần này, tôi có cuộc gặp với các giám đốc DN trong ngành tài chính, thông tin chung là rất ít nguồn để có thể huy động đầu tư. 27 công ty quản lý quỹ của Việt Nam đang ra ngoài huy động vốn, ai cũng thấy thị trường vốn tiềm năng, giá chứng khoán ở mức thấp, nhưng rất ít NĐT vào. Thông điệp rõ ràng về chính sách để có thể dự báo được những rủi ro là điều Việt Nam chưa có. Đó là chưa kể chính sách tiền tệ, cung tiền M2 nóng trong thời gian trước đây đang đặt ra những bài toán rất khó giải quyết cho các ngân hàng nhỏ.

Anh Việt
Anh Việt

Tin cùng chuyên mục