Đây là một kết quá đáng cảnh báo trong bối cảnh nguy cơ xảy ra các tranh chấp pháp lý cả trong và ngoài nước ngày càng lớn. Cũng cần phải thừa nhận một thực tế rằng, các cơ quan toà án hầu như rất thiếu và yếu các thẩm phán có kinh nghiệm chuyên sâu về pháp luật kinh tế. Đặc biệt, trong một thời gian dài, bản thân các cơ quan của Việt Nam , trong đó có toà án, không có thói quen áp dụng điều ước quốc tế trong việc giải quyết công việc của mình. Nghiên cứu độc lập về hệ thống toà án Việt Nam của luật sư Nguyễn Hưng Quang, Văn phòng Luật sư Quang và đồng sự cho thấy, không nhiều thẩm phán Việt Nam biết rõ về các điều ước quốc tế và việc vận dụng chúng trong thực tiễn không nhiều. Phát sinh ở đây, theo ông Quang, khi thẩm phán Việt Nam không áp dụng các quy định đó thì bất lợi lớn sẽ thuộc về các DN Việt Nam và cả các DN nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Đương nhiên, chất lượng các phán quyết vì thế mà bị tác động rất lớn. Hệ quả báo động của cách làm việc thiếu cập nhật này sẽ dẫn đến tư duy và nhận thức của cả luật sư, DN Việt Nam cũng bị giới hạn theo.
Cùng với đó, cũng không thể phủ nhận rằng, đội ngũ luật sư, “cánh tay phải” của DN cũng chưa đủ lực bắt kịp với yêu cầu. Theo đánh giá của một số chuyên gia, chỉ có khoảng 5% trong số luật sư hiện đang hành nghề có đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế. Và đây là một trong những lý do khiến không nhiều DN lựa chọn cách làm việc chuyên nghiệp với sự hỗ trợ của luật sư cũng như cho rằng, toà án không phải là nơi giải quyết tranh chấp hiệu quả.
Cần phải khẳng định rằng, chỗ dựa pháp lý quan trọng này đang ngày càng có vai trò quyết định tới cơ hội làm ăn lớn và lâu dài của mỗi DN, nhất là khi DN muốn làm ăn với các đối tác châu Âu hay có kế hoạch niêm yết trên TTCK. Đặc biệt, thị trường mua bán DN tại Việt Nam đang bắt đầu phát triển khá mạnh, hứa hẹn một kênh làm ăn dù mới mẻ song rất phù hợp với nguồn lực tài chính chưa dồi dào của nhiều DN Việt Nam. Đó là cách thành lập DN để bán cho nhà đầu tư nước ngoài. Đương nhiên, để mọi thủ tục chuyển nhượng được suôn sẻ và thuận lợi, yếu tố minh bạch và chuyên nghiệp phải được thiết lập ngay từ đầu. Và sự có mặt của tư vấn pháp lý là không thể thiếu trong suốt quá trình này.
Thực ra, gốc của câu chuyện chuyên nghiệp hoá hoạt động kinh doanh của DN Việt Nam nằm khá nhiều ở môi trường kinh doanh. Do yếu tố lịch sử, thói quen làm việc trực tiếp theo kiểu “nhất thân, nhì quen” hiện vẫn đang chiếm thế chủ đạo trong phong cách làm việc không chỉ của DN mà của đa phần bộ phận có liên quan tới hoạt động của DN, trong đó có các cơ quan quản lý nhà nước. Cho tới thời điểm này, cách làm việc qua đại diện cho DN là luật sư không được chấp nhận ở nhiều cơ quan quản lý nhà nước. Thậm chí, có cơ quan yêu cầu chỉ làm việc với chủ DN hoặc người đại diện có giấy giới thiệu. Chính thói quen này khiến động lực để các DN sử dụng luật sư ngay từ đầu nhằm bảo vệ quyền lợi và tránh các rủi ro pháp lý có thể gặp phải trong quá trình kinh doanh rất thấp. Và khi phát sinh tranh chấp, sự có mặt của luật sư chỉ là để cố gắng cứu vãn tình hình. Không ít DN lựa chọn cách xử lý tiêu cực bằng “luật rừng” để giải quyết tranh chấp. Sẽ không thể có được những DN lớn, bền vững với những thói quen như vậy.
Phương thức kinh doanh thiếu chuyên nghiệp đương nhiên sẽ có hệ luỵ lớn tới môi trường kinh doanh. Nhiều khi, sự thiếu chuyên nghiệp của DN sẽ kéo lùi các nỗ lực cải cách của Chính phủ. Song, cũng không thể không nói rằng, chính những bất cập trong năng lực, thói quen làm việc của các cơ quan nhà nước là một trở lực không nhỏ trong tiến trình chuyên nghiệp hoá của DN.