Luật sư Nguyễn Sỹ Hồng, Đoàn luật sư Nghệ An
Trước hết, các hoạt động sáp nhập hay mua lại, liên doanh liên kết, góp vốn kinh doanh hay thành lập các pháp nhân mới có mối liên hệ, liên kết trên cùng một lãnh thổ hay ngoài lãnh thổ là quyền của DN và là hoạt động bình thường trong quá trình đầu tư, sản xuất - kinh doanh. Tại Việt Nam, Điều 8 của Luật DN 2005 quy định cụ thể các nguyên tắc cơ bản về các quyền này của DN. Vấn đề ở đây sẽ trở nên không bình thường khi trong quá trình nói trên có một trong những dấu hiệu sau:
-Thứ nhất, việc dịch chuyển nguồn vốn, lợi thế kinh doanh, kinh nghiệm, năng lực và các nguồn lực khác trong các mối quan hệ liên kết kể trên không dựa trên cơ sở minh bạch và theo nguyên tắc bình đẳng, cạnh tranh hay dựa vào giá thị trường, trong điều kiện bình thường;
-Thứ hai, có dấu hiệu cho thấy các mục đích của việc liên kết hay thành lập pháp nhân mới nhằm mục đích lẩn tránh việc thực hiện pháp luật hay các nghĩa vụ pháp lý khác;
-Thứ ba, có dấu hiệu của việc trục lợi cá nhân hay có hành vi trục lợi có tổ chức, thông đồng làm thiệt hại đến các bên có quyền (các cổ đông, các bên trong hợp đồng, các nhà đầu tư hay thị trường);
-Thứ tư, các giao dịch trong quá trình này ảnh hưởng trọng yếu đến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của DN.
Nhưng mặt khác, tất cả các quyết định kinh doanh của một DN theo hình thức công ty cổ phần, về nguyên tắc, sẽ là hợp lệ nếu được thông qua bởi ĐHCĐ, HĐQT hay Ban giám đốc theo đúng trình tự, thẩm quyền, quy định bởi Luật DN và Điều lệ công ty.
Do đó, về phương diện pháp lý, nếu có các dấu hiệu không bình thường kể trên thì các bên bị thiệt hại phải chứng minh được mức độ thiệt hại và cung cấp chứng cứ trong vụ kiện dân sự đòi bồi thường thiệt hại do hành vi của cá nhân hay tổ chức gây ra. Trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm ảnh hưởng đến tài sản hay lợi ích công (ví dụ: vốn và tài sản Nhà nước tại DN), gây lũng đoạn thị trường nhằm trục lợi thì nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan chức năng và Tòa án là nơi quyết định cuối cùng về hành vi phạm pháp nếu có và mức hình phạt (trong đó có bồi thường, nếu phần bồi thường không tách ra thành vụ án khác).
Theo các nguyên tắc và cách tiếp cận của luật công ty hiện đại trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ thì một công ty sẽ không phải chịu trách nhiệm pháp lý đơn thuần vì họ có quyền biểu quyết và chi phối công ty khác hay tổ chức công ty con để hạn chế các trách nhiệm mà bản thân nó không phải là hành vi phạm pháp. Do đó, xác định được biểu hiện trục lợi và vi phạm trong các mối quan hệ, liên kết phức tạp, trên cả hai phương diện xác định quan hệ pháp lý và quan hệ lợi ích kinh tế. Mục đích của việc làm này là tránh các hành vi trục lợi và ảnh hưởng đến lợi ích công chúng.
Ngoài ra, theo nguyên tắc bảo vệ cổ đông thiểu số, hệ thống luật pháp Anh - Mỹ và các nước cũng đang tiếp tục hoàn thiện các vấn đề về quản trị DN, trách nhiệm của người quản lý DN, lý luận về tính độc lập của DN trong mối quan hệ với các cổ đông, về các nguyên tắc để xác định tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm chính trong các DN tham gia vào quá trình liên kết. Cùng với hệ thống án lệ đồ sộ về các vấn đề kể trên, Luật Các công ty 2006 của Vương quốc Anh là một đạo luật đã giải quyết được hầu hết các vấn đề hiện nay của luật công ty hiện đại, trong đó hài hòa giữa lợi ích DN, lợi ích nhà nước, lợi ích cổ đông và lợi ích công cộng.
Về cơ bản, hệ thống luật Việt Nam, trong đó có Luật DN, các luật và quy định về cổ phần hóa, quản lý thị trường chứng khoán, đầu tư… đã bước đầu ghi nhận những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ cổ đông thiểu số, bảo vệ quyền và lợi ích DN, nhà nước, chống các giao dịch liên kết, liên quan nhằm trục lợi. Tuy nhiên, thực tiễn của quá trình chuyển đổi của nhiều nền kinh tế đang phát triển và tại Việt Nam chỉ ra rằng, trong quá trình này, không ít những quy định của pháp luật đã không đủ và mạnh để điều chỉnh các hành vi trục lợi mà hệ quả của nó không chỉ ảnh hưởng đến các cổ đông thiểu số mà còn ảnh hưởng đến cổ đông đa số, trong đó có nhà nước. Ngoài ra, nó còn gây mất lòng tin vào thị trường, tạo điều kiện cho tội phạm “cổ cồn trắng” (white collar crime).
Để bảo vệ nhà đầu tư, các giải pháp, bao gồm nhưng không giới hạn các giải pháp sau đây:
- Thứ nhất, nhà đầu tư phải tăng cường và tích cực sử dụng tối đa các quyền mà luật pháp và điều lệ công ty cho phép đối với cổ đông để tiếp cận các thông tin tài chính, hoạt động kinh doanh được phép; kiểm tra, giám sát quá trình ra các quyết định của đội ngũ quản lý DN, bao gồm: HĐQT, Ban giám đốc và các đối tượng khác. Các cổ đông thiểu số, theo luật định, có thể liên kết với nhau theo hình thức đại diện để tham gia vào việc kiểm tra, giám sát, dự họp, biểu quyết đối với các vấn đề quan trọng liên quan đến DN.
- Thứ hai, khi phát hiện thấy dấu hiệu bất thường thì phải thực hiện quyền cổ đông của mình trong khuôn khổ Luật DN để triệu tập họp, xác minh, tiếp cận thông tin, yêu cầu bãi miễn nhiệm, thay thế thành viên quản lý… Khi có thiệt hại thì phải yêu cầu đòi bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự và ngoài ra, có thể thực hiện quyền công dân để khiếu nại, tố cáo hay tố giác tội phạm.
- Thứ ba, các giao dịch liên kết, thành lập pháp nhân mới nói trên phải được quy định nghiêm ngặt và cụ thể trong Điều lệ công ty, tránh các hành vị trục lợi và gây thiệt hại.
- Thứ tư, về góc độ quản lý nhà nước, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về vấn đề nêu trên; tăng cường chức năng giám sát, thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng.
- Thứ năm, tăng cường giám sát các hoạt động cung cấp thông tin, minh bạch, công bằng đối với các giao dịch liên kết, liên doanh, thành lập pháp nhân mới để tất cả cổ đông, thị trường và cơ quan giám sát biết kịp thời, chính xác.
Một chuyên gia phân tích tài chính
Nguyên nhân của hiện tượng trên là do TTCK Việt Nam phát triển nóng từ cuối năm 2006. Nhờ đó, một số cá nhân trong HĐQT, Ban giám đốc, do tham gia góp vốn từ lâu và có lượng cổ phiếu sở hữu lớn đã trở thành những đại gia cổ phiếu. Tuy nhiên, thời gian gần đây, TTCK nguội dần và nhiều cổ phiếu giảm giá khá mạnh. Các đại gia cổ phiếu này buộc phải tìm một phương kế khác để bảo tồn và gia tăng giá trị tài sản hiện có của mình. Do đó, thành lập các công ty trong những lĩnh vực ưa chuộng như chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư hay ngân hàng là một cách được họ lựa chọn. Họ tham gia với tư cách cổ đông sáng lập ban đầu với giá mua bằng mệnh giá gốc.
Việc sử dụng tên tuổi và nguồn lực của công ty mẹ để thành lập các công ty con với cổ đông sáng lập là các thành viên lãnh đạo sẽ gây xung đột lợi ích với đa số cổ công khác. Đây là một trong những vấn đề yếu kém nổi bật của TTCK Việt Nam - vấn đề quản trị công ty dựa trên nguyên tắc bảo đảm kết hợp hài hòa lợi ích của các bên: cổ đông, nhân viên, ban giám đốc và những người có lợi ích liên quan. Mặt khác, quản trị công ty đòi hỏi việc quản lý tài sản công ty (các nguồn lực, thương hiệu, hình ảnh công ty) phải vì lợi ích cao nhất của tất cả cổ đông.
P.V
Tin liên quan: