Đó là ý kiến chung của các DN tham gia Hội nghị triển khai các giải pháp tiền tệ ngân hàng nhằm thúc đẩy, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội do NHNN phối hợp với Thành ủy, UND TP. HCM tổ chức cuối tuần qua.
Ông Dương Ngọc Minh, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Hùng Vương cho biết, hiện nay tổng vốn của DN là 3.400 tỷ đồng và vốn vay cũng khoảng 3.400 tỷ đồng; trong đó vay tại Vietcombank khoảng 1.500 tỷ đồng, BIDV 400 tỷ đồng và vay tín chấp của một số TCTD khác. Lãi suất cho vay VND tại Vietcombank 8,5%/năm, BIDV 9%/năm là phù hợp và thời hạn vay cũng khá hợp lý.
Còn theo ông Đỗ Duy Thái, Tổng giám đốc Công ty Thép Việt, vốn lưu động của DN thường xuyên không sử dụng hết. Lãi suất vay ngắn hạn của Vietcombank hiện là 8,2%/năm và một vài ngân hàng khác là 8,5%/năm, nhưng vốn vay dài hạn của DN hiện 13%/năm nên khó cạnh tranh với DN nước ngoài. Hiện nay, Công ty đang chỉ “chạy” 60% công suất trong khi đang cần “chạy” khoảng 70%, nên mong muốn lãi suất trung, dài hạn hạ xuống 10%/năm để DN có mức chi phí cạnh tranh hơn khi xuất khẩu hàng hóa.
“Sự ổn định thị trường tiền tệ và điều hành lãi suất của NHNN trong thời gian qua có tác động tích cực đối với hoạt động sản xuất - kinh doanh của DN. Vì vậy, kiến nghị NHNN tiếp tục duy trì sự ổn định các yếu tố tỷ giá; lãi suất... Điều này không chỉ hỗ trợ cho DN, kích thích sản xuất - kinh doanh, mà còn tạo niềm tin cho thị trường trong điều kiện còn nhiều khó khăn như hiện nay”, ông Thái nói.
Tổng giám đốc Công ty TNHH Điện hơi công nghiệp Tín Thành, ông Trần Đình Quyền chia sẻ, lĩnh vực của Công ty là ngành kinh doanh đặc thù về công nghiệp môi trường, tái tạo năng lượng. Do vậy, cần có sự hỗ trợ của chính quyền các cấp và ngân hàng về các chính sách ưu đãi như thủ tục vay vốn, lãi suất thấp, thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay, thuế, đất đai...
“DN đang tiên phong triển khai áp dụng công nghệ thay thế nhiên liệu đốt ở Việt Nam và áp dụng tại Nhà máy FiCo xi măng Tây Ninh. Nếu được Nhà nước và ngân hàng quan tâm hỗ trợ thì chúng tôi có điều kiện làm giảm giá thành sản xuất cho ngành xi măng, giảm áp lực cho ngành than, góp phần tiêu hủy nhiều triệu tấn rác thải sinh hoạt và công nghiệp mỗi năm”, ông Quyền nói.
Về hoạt động tín dụng trên địa bàn, ông Tô Duy Lâm, Giám đốc NHNN Chi nhánh TP. HCM cho biết, tín dụng tại TP. HCM đang có dấu hiệu tăng trưởng trở lại. Cụ thể, hai tháng đầu năm, tín dụng trên địa bàn giảm 0,54%. Trong đó, tháng 1 giảm 0,01%; tháng 2 giảm 0,53%. Tuy nhiên, tháng 3/2013, tín dụng đã có tín hiệu phục hồi. Dự ước đến 31/3/2013, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn đạt 857.700 tỷ đồng, tăng 0,81% so với cuối tháng 2 và tăng 0,26% so với cuối năm 2012.
“Riêng tại 14 ngân hàng thương mại cổ phần, dư nợ tín dụng đến ngày 26/3/2013 đạt 562.507 tỷ đồng, tăng 1,54% so với tháng 2/2013 và tăng 0,4% so với cuối năm 2012”, ông Lâm nói và nhấn mạnh, cơ chế chính sách của NHNN về tiền tệ, tín dụng và lãi suất đã tạo điều kiện “định hướng” dòng vốn tín dụng tập trung vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh. Theo đó, dư nợ cho vay 5 lĩnh vực ưu tiên (số liệu đến ngày 21/3/2013) đạt 96.163 tỷ đồng, tăng 7,1% so với cuối năm 2012 và tăng 92,1% so với thời điểm thực hiện (ngày 19/7/2012). Trong đó, dư nợ cho vay DN nhỏ và vừa đạt 54.772 tỷ đồng; cho vay xuất khẩu đạt 16.556 tỷ đồng; cho vay nông nghiệp và nông thôn đạt 17.901 tỷ đồng; cho vay công nghiệp hỗ trợ 6.759 tỷ đồng và cho vay DN ứng dụng công nghệ cao 176 tỷ đồng.
“Chúng ta đang có nguy cơ theo lý thuyết là rơi vào bẫy tiền tệ, bẫy thanh khoản. Nếu lãi suất hạ thấp mà vốn không ra được nền kinh tế thì rất nan giải. Đây là vấn đề lớn của đất nước. Tôi cho rằng, ít nhất hệ thống ngân hàng cũng phải giải bài toán cung - cầu để không bị kêu là áp lãi suất cao nên DN không vay được. Trên thực tế, hệ thống ngân hàng đã và vẫn đang loay hoay với câu chuyện làm sao đưa vốn ra nền kinh tế trên nền lãi suất thấp. Tuy nhiên, việc DN không muốn vay tiền không có lỗi của hệ thống ngân hàng mà là vấn đề đầu ra”, ông Trương Văn Phước, Tổng giám đốc Eximbank nói.
Về việc cho vay các lĩnh vực ưu tiên, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình chia sẻ, là một thành viên của Chính phủ, ông thừa nhận Việt Nam chưa có chính sách ưu đãi đủ mạnh đối với lĩnh vực phát triển xanh, phát triển bền vững. Hiện NHNN đang phối hợp với IFC học hỏi kinh nghiệm và tiếp cận các gói hỗ trợ tương tự trong lĩnh vực này của thế giới.
Bên cạnh đó, ông Bình cũng nhấn mạnh, Công ty Quản lý nợ (AMC) ra đời cũng chỉ thêm một công cụ để xử lý nợ xấu, chứ không phải là “cây đũa thần” giải quyết hết nợ xấu hỗ trợ các TCTD và hạ được lãi suất cho vay. DN cần hoạt động kinh doanh bài bản, quy hoạch đầy đủ nguồn vốn nào dài hạn, nguồn vốn nào lưu động, sử dụng vốn hiệu quả... và như vậy, chắc chắn các TCTD sẽ cho vay với lãi suất hợp lý.
“Hệ thống ngân hàng sẵn sàng đưa ra lãi suất thấp, nhưng thế nào là thấp? Có thể với người này 8%/năm là thấp, nhưng với người khác lại là cao. Tỷ lệ cho vay trung, dài hạn trong hệ thống hiện trên 40% trong khi quy định của NHNN chỉ 30%, rõ ràng tỷ lệ này đã bị vượt quá. Các TCTD cũng mong mỏi lãi suất trung, dài hạn sẽ được đưa xuống dưới 10%/năm, nhưng đầu vào vẫn còn cao thì việc đáp ứng lãi suất này ở mức 12 - 13%/năm cho các DN thực tế đã là mức rất tốt”, Thống đốc nói và cho biết thêm: “Lãi suất đang trong chiều hướng giảm theo đà giảm dần của lạm phát. Chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục được điều hành ổn định, linh hoạt theo diễn biến kinh tế vĩ mô”.
| “Bình ổn nhưng phải có hiệu quả cho tất cả các bên” Ông Phan Huy Khang, Tổng giám đốc Sacombank
Không chỉ thực hiện ở TP. HCM, Sacombank còn triển khai các chương trình này ở tất cả các địa phương có sự hiện diện của Ngân hàng. Với thành công trong năm qua, năm 2013, chúng tôi tiếp tục nhân rộng mô hình này đến các hộ nông dân.
“Trực tiếp tìm DN để cung ứng vốn” Bà Trương Thị Thúy Nga, Phó tổng giám đốc kiêm Giám đốc Vietcombank Chi nhánh TP. HCM
Tôi rất mong muốn trên địa bàn TP. HCM nói riêng và trên toàn quốc, các ngân hàng tùy theo từng cấp độ, tiềm lực để tham gia chương trình bình ổn thị trường. Ngân hàng sẵn sàng hạ lãi suất xuống để bù đắp, hỗ trợ khó khăn cho DN, nhưng cũng cần tính đến việc duy trì hoạt động của các TCTD, ví như nếu đầu vào lãi suất 7,5%/năm mà đầu ra 6%/năm thì phải chịu lỗ quá cao. Bình ổn nhưng phải có hiệu quả cho tất cả các bên. Ví dụ Vietcombank từng cung cấp dịch vụ, sản phẩm với một DN có thương hiệu lớn trên địa bàn, nhưng họ vẫn “quay tới quay lui”, ép ngân hàng nhiều vấn đề không đúng và chúng tôi cũng không thể tăng thêm ưu đãi được nữa. |