Nếu nhìn tổng thể có thể khẳng định, VN bước đầu thành công trong việc gia nhập WTO, tuy nhiên, hiện chỉ có một cơ quan duy nhất nghiên cứu về tác động, ảnh hưởng sau khi gia nhập WTO là Ban Hội nhập thuộc Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nên trên từng khía cạnh, từng ngành hàng, từng tầng lớp dân cư chịu tác động ra sao sau khi VN hội nhập thì vẫn chưa có bức tranh tổng thể. Việc đánh giá tác động của hội nhập WTO và tìm ra bước đi thích hợp để thành công trong quá trình thực hiện lộ trình cam kết, theo ông Xuân là vô cùng quan trọng, nhưng đến nay chỉ duy nhất có Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thực hiện một cách bài bản. “Sau khi gia nhập WTO, người dân ai cũng vui mừng, phấn khởi, nhưng đến bây giờ, tuyệt đại đa số người dân, đặc biệt là nông dân (đối tượng bị tác động nhiều nhất do VN phải thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu 1.224 dòng thuế nông sản xuống mức bình quân 25%) cũng không biết mình được gì, mất gì”, ông Xuân phát biểu.
Để bảo đảm hội nhập thành công, theo ông Xuân, các cơ quan quản lý nhà nước phải có những chính sách nhằm nâng cao vai trò của DN, hiệp hội DN và Phòng Thương mại và Công nghiệp VN. “Tôi cho rằng, các DN đã thành công trong việc xúc tiến thương mại, song sự thành công này mới chỉ là bước đầu, nếu muốn bảo đảm thành công thì hệ thống xúc tiến thương mại phải thay đổi, phải có sự đầu tư thích đáng mới tạo ra lợi thế đối với nhà sản xuất trong nước trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu”, ông Xuân nhấn mạnh.
TS Nguyễn Ngọc Hòa, Tổng giám đốc Liên hiệp Hợp tác xã TP. HCM nhận định, chưa bao giờ VN có nhiều cơ hội để phát triển kinh tế như hiện nay, tuy nhiên VN mới chỉ tận dụng được một số cơ hội, bỏ qua nhiều cơ hội mà WTO tạo ra trong khi nhiều ngành, nhiều DN lại có tư tưởng xem nhẹ nguy cơ, thách thức sau khi gia nhập WTO. “Sau 10 tháng kể từ khi gia nhập WTO, VN đã thu hút được 11 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng do dự báo chưa tốt đã dẫn đến tình trạng nền kinh tế không hấp thụ hết nguồn vốn này. Nguồn vốn không tìm được đầu ra nên đã chảy vào những lĩnh vực không làm tăng giá trị gia tăng, thậm chí còn dẫn đến hiện tượng đầu cơ, tác động xấu tới thị trường”, ông Hòa nhận định.
Nền kinh tế đã hội nhập, thế nhưng DN thuộc mọi thành phần kinh tế đang thiếu trầm trọng đội ngũ quản trị, chuyên gia giỏi có khả năng vận hành DN trong điều kiện mới, đây là nguy cơ, thách thức nhưng chưa được nhiều người quan tâm, khắc phục. Trong cộng đồng WTO, quốc gia nào cũng cũng chủ động xây dựng hàng rào kỹ thuật để hạn chế khả năng xâm nhập của hàng hóa nước ngoài, bảo vệ sản xuất trong nước, trong khi đó, các cơ quan hữu quan của VN quá “rộng lượng” với hàng hóa nước ngoài cũng là nguy cơ khiến ông Hòa lo lắng sẽ biến VN trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa nước ngoài, bởi 9.204 dòng thuế hàng công nghiệp đã phải hạ thuế nhập khẩu, với mức thuế suất bình quân chỉ còn 16,7%. “Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng như năng lực cạnh tranh của DN trong nước chưa có sự chuyển biến về chất, chưa đủ tầm để vươn ra biển lớn”, ông Hòa kết luận.
Chỉ số đổi mới công nghệ trong các DN VN hiện chỉ chiếm 0,2 - 0,3% doanh thu, trong khi tỷ lệ này của các DN Hàn Quốc vào khoảng 10% khiến Phó giám đốc Sở Khoa học - Công nghệ tỉnh An Giang, bà Mai Thị Ánh Tuyết lo ngại trong môi trường mà DN VN phải cạnh tranh bình đẳng với DN nước ngoài.
Muốn tận dụng được cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài cả gián tiếp lẫn trực tiếp; đẩy mạnh xuất khẩu; nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế… trong môi trường mới, theo bà Tuyết, công tác xúc tiến thương mại, đầu tư vô cùng quan trọng. Thế nhưng, trên thực tế, công tác này hiện nay vẫn thiếu tính chuyên nghiệp, cục bộ, manh mún và chưa có một quy hoạch lâu dài cũng như chưa có sự kết hợp chặt chẽ, thống nhất giữa Trung ương, địa phương và DN, mặc dù năm 2007, Ngân sách Trung ương đã chi cho công tác này 200 tỷ đồng. “Tôi đề nghị Chính phủ cần có những giải pháp hoạch định xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch lâu dài và kết hợp chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương, địa phương và DN. Năm 2008, Ngân sách Trung ương bố trí cho công tác này tối thiểu bằng năm 2007 (Chính phủ dự định giảm 20 tỷ đồng) và dành một phần kinh phí để thực hiện xây dựng chương trình ngân hàng dữ liệu chuẩn quốc gia với đầy đủ thông tin về môi trường kinh doanh, văn hoá, luật pháp của các quốc gia để cung cấp cho DN”, bà Tuyết kiến nghị.