Khống chế cho vay chứng khoán: thụ động và bất nhất

(ĐTCK-online) Cuối cùng, bằng Công văn số 7021 ký ngày 28/6, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã cho phép các ngân hàng thương mại kéo dài thời gian thu hồi nợ và giảm dư nợ cho vay chứng khoán xuống dưới 3% đến ngày 31/12/2007. Kiểu "đính chính" Chỉ thị 03 này cho thấy sự thụ động của NHNN trong quản lý cho vay chứng khoán.

"Đính chính" Chỉ thị….!

Trong cuộc gặp gỡ báo chí đầu năm 2007, Thống đốc NHNN, ông Lê Đức Thuý đã công bố con số cho vay chứng khoán của hệ thống ngân hàng thương mại vào khoảng 2%-3% tổng dư nợ và theo ông Thuý, tỷ lệ này là "không đáng lo ngại". Nhưng thật  bất ngờ, ngày 28/5/2007, cũng chính Thống đốc Lê Đức Thuý đã ký ban hành Chỉ thị 03 với yêu cầu các ngân hàng phải khống chế tỷ lệ cho vay chứng khoán dưới 3% tổng dư nợ. Tại văn bản này, hiệu lực của Chỉ thị 03 được quy định là sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Nhưng tại Công văn 7021 cũng do Thống đốc ký ban hành mới đây, ngày Chỉ thị 03 có hiệu lực thi hành lại là ngày 1/7/2007, còn ngày mà các ngân hàng bắt buộc phải đáp ứng tỷ lệ quy định tại Chỉ thị này là 31/12/2007.

Điểm dễ nhận thấy trong các phát ngôn của NHNN về tỷ lệ dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán của hệ thống ngân hàng là có sự không rõ ràng về số liệu. Trả lời báo chí hôm 21/6/2007, ông Thuý cho biết, dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán ở các ngân hàng thương mại hiện nay đang ở mức thấp, khoảng 2,5% tổng dư nợ, nhưng vẫn có 12 ngân hàng cổ phần đã cho vay vượt mức 3% và bình quân mức cho vay của 12 ngân hàng này là 7% tổng dư nợ. Trong khi đó, tại cuộc toạ đàm về Chỉ thị 03 được tổ chức ngày 28/6 tại Hà Nội, ông Nguyễn Danh Trọng, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ NHNN lại công bố, tỷ lệ cho vay chứng khoán tại một số ít ngân hàng thương mại, chủ yếu là ngân hàng nhỏ, lên tới 40 - 50% tổng dư nợ.

Báo cáo định kỳ hàng tháng về cho vay chứng khoán

Công văn 7021 của NHNN có kèm theo một mẫu báo cáo yêu cầu các tổ chức tín dụng báo cáo NHNN định kỳ hàng tháng về tình hình cho vay chứng khoán, cầm cố chứng khoán. Thống đốc Lê Đức Thuý cũng yêu cầu Thanh tra NHNN tiến hành thanh tra, giám sát và xử lý các vi phạm của tổ chức tín dụng trong cho vay chứng khoán. Thanh tra sẽ phối hợp với các đơn vị chức năng của NHNN định kỳ hàng tháng tiến hành đánh giá tình hình cho vay chứng khoán.

Vậy thực chất tỷ lệ cho vay chứng khoán của hệ thống ngân hàng là bao nhiêu? Câu hỏi này chỉ có NHNN mới hiểu, vì dù có cố gắng đến chừng nào thì báo chí cũng không được tiếp cận với báo cáo thực từ NHNN về vấn đề này.

 

Cho vay chứng khoán là gì? (!)

Chỉ thị 03 ra đời nhằm khống chế cho vay chứng khoán, nhưng lại đặt ra một câu hỏi lớn: cho vay chứng khoán là gì? Tại buổi toạ đàm về Chỉ thị 03 mới đây, hầu hết ý kiến từ các ngân hàng thương mại đều yêu cầu phải làm rõ ở Chỉ thị 03 những loại hình nghiệp vụ và đối tượng, bởi họ là những người thực thi và trực tiếp chịu ảnh hưởng từ những quy định đó. Trong Chỉ thị 03, điểm mà các ngân hàng, nhà đầu tư cũng như giới quan sát đặt câu hỏi là khái niệm "chứng khoán" được hiểu như thế nào, gồm những đối tượng nào thuộc diện giới hạn tỷ lệ 3% tổng dư nợ?

Theo Chỉ thị 03, dư nợ vốn cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán bao gồm: cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá đối với các công ty chứng khoán; cho vay cầm cố bằng chứng khoán và/hoặc bảo đảm bằng tài sản khác để đầu tư, kinh doanh chứng khoán đối với các tổ chức khác và cá nhân; chiết khấu giấy tờ có giá đối với tổ chức và cá nhân để đầu tư, kinh doanh chứng khoán. Trong khi đó, ngày 21/6/2007, tức là sau hơn 20 ngày ban hành Chỉ thị 03, Thống đốc lại phát biểu công khai với báo giới rằng, NHNN chỉ cấm việc cho vay vượt quá tỷ lệ cho phép bằng cầm cố cổ phiếu đầu tư kinh doanh chứng khoán, "còn nếu mua chứng khoán nhưng đảm bảo bằng tài sản, hoặc chữ tín thì không cấm"!(?).

Nay, đến Công văn 7021, dư nợ cho vay chứng khoán của các ngân hàng (điểm a, Khoản 2) được xác định cụ thể hơn, gồm: cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá đối với các công ty chứng khoán; cho vay có cầm cố bằng chứng khoán và/hoặc bảo đảm bằng tài sản khác đối với khách hàng sử dụng vốn vay để mua các loại chứng khoán với mục đích đầu tư ngắn hạn và/hoặc dài hạn; cho vay ứng trước tiền đối với khách hàng đã bán chứng khoán, và sử dụng vốn vay để mua chứng khoán; cho vay đối với khách hàng để bổ sung số tiền thiếu khi lệnh mua chứng khoán được khớp; chiết khấu giấy tờ có giá đối với khách hàng để sử dụng số tiền chiết khấu mua chứng khoán; các khoản cho vay và chiết khấu giấy tờ có giá dưới các hình thức khác, mà khách hàng sử dụng vốn vay để mua chứng khoán. Còn điểm c, Khoản 2 thì quy định, khái niệm khách hàng vay vốn và chiết khấu của tổ chức tín dụng tại điểm a, Khoản 2 ở trên không bao gồm công ty chứng khoán; các tổ chức tín dụng; người lao động trong công ty nhà nước mua cổ phần lần đầu khi chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.

Đến đây, dư luận lại nhìn thấy sự bất nhất. Cùng là công ty chứng khoán (mà tài sản chủ yếu của loại công ty này là tài sản tài chính), điểm a, Khoản 2 thì quy định cho vay chiết khấu giấy tờ có giá đối với loại công ty này bị tính vào dư nợ cho vay chứng khoán tại các ngân hàng; còn điểm b, Khoản 2 lại quy định công ty chứng khoán không thuộc đối tượng khách hàng vay vốn, chiết khấu của tổ chức tín dụng để đầu tư chứng khoán.

Đối với nhà đầu tư, theo tinh thần của Công văn 7021 thì nếu vay tiền để mua chứng khoán với mục đích đầu tư ngắn hạn hoặc dài hạn thì khoản vay bị tính vào dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng cho vay. Vậy nếu ngân hàng cho nhà đầu tư vay tiền để mua chứng khoán với mục đích đầu tư trung hạn thì sao? Thời hạn đầu tư chứng khoán thế nào là ngắn hạn và dài hạn theo quan điểm của NHNN?

Bên cạnh đó, Công văn 7021 còn quy định những điểm thiếu thực tế, chẳng hạn, nghiệp vụ "cho vay ứng trước tiền đối với khách hàng đã bán chứng khoán và sử dụng vốn vay để mua chứng khoán" có độ an toàn rất cao, vậy tại sao lại đặt khoản cho vay này trong dư nợ cho vay chứng khoán chung của các ngân hàng? Đại diện nhiều ngân hàng thương mại cổ phần cho biết, họ đang "êm ấm" với hoạt động cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán, đây là một nghiệp vụ hầu như không rủi ro, vì vậy, tỷ lệ cho vay đối với nghiệp vụ này có lên đến 10 - 15% cũng không quá lo ngại. Hơn nữa, xét về bản chất, nghiệp vụ này đang hỗ trợ rất tốt về vốn ứng trước cho nhà đầu tư trên TTCK, giảm thiểu ảnh hưởng của quy trình thanh toán T+3 đang áp dụng hiện nay.

Sau hơn 1 tháng "sống cùng Chỉ thị 03", nhà đầu tư và giới chuyên môn vẫn không ngớt lời bàn luận về văn bản này. Đến nay, về quan điểm, việc NHNN khống chế cho vay đầu tư chứng khoán đã nhận được nhiều sự đồng thuận, bởi xét cho cùng, 2 kênh dẫn vốn trong nền kinh tế (qua ngân hàng và qua TTCK) cần có sự phát triển độc lập. Nhưng cách khống chế như quy định tại Chỉ thị 03 và Công văn 7021 chưa chứng tỏ được sự hợp lý và khoa học, nên sự phản ứng mà NHNN phải đón nhận chắc chắn sẽ chưa dừng lại.

Lan Minh

 

Bà Dương Thu Hương, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Ngân sách Quốc hội

Quan điểm của chúng tôi là cần đưa ra chiến lược kiểm soát ngay từ đầu chứ không phải ra quyết định khống chế cho vay đột ngột như thế. Làm ngân hàng ai chẳng biết ngay khi có TTCK dòng tiền ngân hàng sẽ chảy ra, do đó cần phải có cơ chế kiểm soát dòng vốn này, chứ không phải khi dư luận ầm ĩ và thực tế lượng tiền ngân hàng đổ sang chứng khoán lớn thì mới đưa ra quy định.

Với tình hình hiện nay, khi tác động của Chỉ thị 03 và Công văn 7021 đã khá rõ, NHNN cần theo dõi xem các văn bản này đi vào cuộc sống như thế nào để có động thái ứng xử phù hợp. Ngoài ra, cần có thống kê chuẩn xác xem tiền ngân hàng đổ vào đầu tư chứng khoán trực tiếp, gián tiếp là bao nhiêu, sau đó xem ngân hàng nào ở mức chấp nhận được, ngân hàng nào quá mức thì yêu cầu thu hồi vốn.  Trong một lần thảo luận tại Ủy ban Kinh tế Ngân sách, các đại biểu Quốc hội bàn chuyện vốn ngân hàng chạy sang chứng khoán, nhiều đại biểu NHNN đứng lên nói không đáng kể, chỉ 1-2%, nhưng sau mấy tháng thì lại ban hành Chỉ thị 03 và nói tình hình rất nguy ngập. Vậy thực chất tỷ lệ cho vay đang ở mức độ nào, lúc bảo 1-2%, lúc bảo có ngân hàng tới 50%?

Qua việc này, có thể thấy cách điều hành của NHNN quá thụ động, luôn luôn chạy theo thực tiễn chứ không đi trước. Ủy ban Kinh tế Ngân sách không can thiệp được các quyết sách của NHNN, nhưng chúng tôi đã có ý kiến về vấn đề này và có thể sẽ có ý kiến tiếp.

 

Ông Nguyễn Đoan Hùng, Phó chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

UBCK là cơ quan giám sát TTCK, còn NHNN là cơ quan ban hành chính sách tiền tệ, ổn định kinh tế. Ở góc độ thị trường, chúng tôi có thể thấy ngay tác động của chính sách này, nhưng NHNN khi đưa ra chính sách cũng có quan điểm riêng để đảm bảo an toàn. Ở các nước khác, khi TTCK nóng quá, Chính phủ can thiệp chủ yếu qua việc NHNN xem xét ban hành các chính sách về tiền tệ, ngoại hối…. Nhưng quan trọng là họ phối hợp với cơ quan giám sát thị trường để xem tác động đến đâu.

Khi xem xét các số liệu về vốn ngân hàng chảy vào chứng khoán, kênh thu nhận số liệu của UBCK là từ NHNN, theo tôi được biết khoảng 2,3-2,4%. Với những chứng khoán niêm yết, nếu cầm cố sẽ được tách biệt riêng trên tài khoản lưu ký, nên UBCK có thể nắm được số liệu, nhưng phần này nói thực rất nhỏ, thị trường OTC lớn thế, biết bao nhiêu cổ phiếu được cầm cố ở ngoài. Vì thế, chỉ có các ngân hàng mới có thể phân loại và có số liệu trung thực về khoản cho vay đầu tư chứng khoán.

Khi Chỉ thị 03 có hiệu lực và tác động đến thị trường, ở góc độ UBCK, chúng tôi đều có báo cáo về tình hình thị trường lên Hội đồng Chính sách tài chính tiền tệ và tôi tin cơ quan này sẽ xem xét vấn đề.

 

Bà Gerri Walsh, Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán Mỹ

Tại Mỹ, khi nhà đầu tư vay vốn tại ngân hàng bằng cầm cố cổ phiếu, họ sẽ phải mua bảo hiểm của một công ty cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho loại đầu tư này. Do đó, khoản vay của nhà đầu tư nếu có rủi ro thì các ngân hàng cũng không phải gánh chịu trực tiếp, mà đơn vị bảo hiểm sẽ phải có trách nhiệm. Việc cho vay thường được thực hiện ở một tỷ lệ nhất định, thông thường bằng khoảng 25% giá trị cổ phiếu (tính theo giá thị trường).

Tin cùng chuyên mục