Hàng năm, Capgemini công bố Chỉ Số Giàu Có tại các thành phố lớn tại Mỹ, trong đó xếp hạng các cá nhân có lượng tài sản ròng lớn đang sinh sống tại 10 khu vực đô thị lớn nhất trong danh sách thống kê. Theo báo cáo này, những cá nhân có tài sản ròng lớn là "những người có tài sản có thể đầu tư trị giá 1 triệu USD hoặc hơn, không tính đến nhà ở, các bộ sưu tập, hàng tiêu dùng và hàng tiêu dùng lâu bền".
Kể từ báo cáo năm trước, số triệu phú đã tăng 7,3%, tiếp theo con số tăng 17,5% trong năm 2009 sau khi con số này giảm mạnh hồi năm 2008. Tuy nhiên, cuộc sống màu hồng của giới giàu có tại Mỹ không thể được cho là điển hình cho cuộc sống của dân thường tại các thành phố này.
Thất nghiệp vẫn là một vấn đề nổi cộm của đất nước. Phân nửa các thành phố trong danh sách thống kê này có tỷ lệ thất nghiệp trên mức trung bình quốc gia là 9,1%. Tỷ lệ thất nghiệp tại San Jose, San Francisco và Chicago trên 9,3%, tại Los Angeles và Detroit là trên 11%.
Bức tranh thị trường nhà ở tại hầu hết các thành phố này thậm chí còn tương phản mạnh mẽ hơn. Tám trong số mười thị trường trong danh sách bị ế ẩm hay giảm giá trị. Trong khi thị trường Boston, Philadelphia và New York giảm dưới 5% thì thị trường Chicago, Detroit và San Francisco giảm trên 10%.
Dù các tổ chức kinh tế địa phương đang lâm vào tình trạng bi đát nhưng số triệu phú tại các thành phố này vẫn tiếp tục tăng, và trong một số trường hợp tăng rất đáng kể.
Houston có 88.200 triệu phú trong năm 2009. Chỉ trong một năm, số triệu phú đã tăng 9,6% lên 96.700 triệu phú. Năm trước đó số triệu phú tại thành phố này cũng tăng gần 30%. Số triệu phý tại các thành phố khác trong danh sách cũng tăng đáng kể trong hai năm 2008-2009 và tăng nhẹ hơn trong năm tiếp theo. Số triệu phú tại thành phố San Jose tăng 24,5% trong giai đoạn đầu tiên và chỉ tăng 2,7% trong gai đoạn gần nhất.
Lý do người giàu ngày càng giàu hơn nằm ở sự phục hồi của một số ngành kinh tế. Trong hầu hết các thành phố, ngành công nghiệp đã được phục hồi. New York và Chicago phát triển tài chính, Houston phát triển năng lượng, San Jose phát triển công nghệ. Dù có lợi nhuận về doanh số bán hàng và giá cổ phiếu nhưng tài sản của người lao động trung bình vẫn không có biến chuyển và trong một số trường hợp thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn.
Để mang lại tầm nhìn về các tổ chức kinh tế địa phương trong danh sách của Cap Gemini, 24/7 Wall St. đã sử dụng dữ liệu về bất động sản đối với sự thay đổi hàng năm của giá trị nhà ở tại mỗi khu vực đô thị được thống kê vào tháng 6/2011. 24/7 WallSt. cũng sử dụng cả dữ liệu về tỷ lệ thất nghiệp gần đây nhất tại mỗi khu vực và đánh giá danh sách Fortune 500 để xác định các tập đoàn thương mại công lớn nhất và có trụ sở tại các thành phố này.
Dưới đây là danh sách 10 thành phố có nhiều triệu phú nhất.
10. San Jose
Số triệu phú: 88.800
Tỷ lệ gia tăng số triệu phú: 2,7%
Thay đổi về giá trị nhà ở: Không đổi
Fortune 500 HQ: Cisco, eBay
Tỷ lệ thất nghiệp: 9,9%
San Jose là một trong đại đa số những thành phố chịu nhiều ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế, trừ Detroit , khi ngành công nghệ trải qua giai đoạn suy thoái khủng khiếp. Đơn đặt hàng các sản phẩm phần cứng, phần mềm và dịch vụ của các công ty như EDS và HP giảm rõ rệt. Cả các doanh nghiệp và cá nhân đều cắt giảm chi tiêu cho công nghệ. Làn sóng này đã thay đổi các công ty trực tuyến như Facebook và ngành điện thoại thông minh, giúp mang lại thêm nhiều doanh số mới cho ngành công nghệ.
9. Detroit
Số triệu phú: 92.100
Tỷ lệ gia tăng số triệu phú: 3,4%
Thay đổi về giá trị nhà ở: -13,3%
Fortune 500 HQ: Ford, GM
Tỷ lệ thất nghiệp: 11,6%
Ngành xe hơi và nhiều công ty lớn cung cấp các bộ phận, công nghệ và phụ tùng như lốp xe đều chịu doanh số giảm. GM và Chrysler đã bị phá sản. Tuy nhiên, ngành này đã bắt đầu thời kỳ phực hưng bất ngờ. GM và Ford thường là hai nhà sản xuất xe hơi hàng đầu tại Mỹ. Cả hai công ty này đều cắt giảm chi phí tới mức đảm bảo thu về lợi nhuận. Michigan đã đưa ra ưu đãi thuế để thu hút các ngành mới tới Detroit , giúp thành phố này trở thành trung tâm hạng trung cho các công ty công nghệ nhỏ.
8. Houston
Số triệu phú: 96,700
Tỷ lệ gia tăng số triệu phú: 9.6%
Thay đổi về giá trị nhà ở: +5.8%
Fortune 500 HQ: ConocoPhillips, Marathon Oil
Tỷ lệ thất nghiệp: 8.2%
Số triệu phú tại Houston đã tăng gần 10% trong hai năm 2009-2010 - cao nhất trong số 10 thành phố lớn nhất. Ngành dầu mỏ và năng lượng chiếm lĩnh các hoạt động kinh doanh tại thành phố này. Giá trị của các công ty dầu lửa đã tăng mạnh cùng với lợi nhuận. Đầu năm 2009, dầu thô được bán với giá chỉ hơn 50 USD mỗi thùng nhưng gần đây đã tăng lên gần 100 USD. Houston cũng là trụ sở của nhiều công ty cung cấp dịch vụ cho ngành năng lượng, trong đó lớn nhất là Halliburton. Ngành này phục hồi cùng với giá dầu và khí tự nhiên.
7. Boston
Số triệu phú: 109.800
Tỷ lệ gia tăng số triệu phú: 7,3%
Thay đổi về giá trị nhà ở: -1,5%
Fortune 500 HQ: Liberty Mutual, State Street
Tỷ lệ thất nghiệp: 6,6%
Cở sở kinh tế của Boston là giáo dục, dịch vụ y tế và tài chính. Nhiều ngân hàng và công ty đầu tư lớn nhất nước Mỹ có mặt tại thành phố này. Nhiều trong số này là các công ty tư nhân lớn với 40.000 nhân viên. Các bệnh viện và giáo dục đại học chủ yếu dựa vào vốn tài trợ, do vậy giá trị của các ngành này bị tổn thương nghiêm trọng. Tài trợ cho Harvard giảm 22% trong bốn tháng hồi năm 2008. Phải mất cả hai năm vừa qua để thu hút lại được một khoản thậm chí còn khiêm tốn hơn.
6. Philadelphia
Số triệu phú: 110.400
Tỷ lệ gia tăng số triệu phú: 6,0%
Thay đổi về giá trị nhà ở: -4,2%
Fortune 500 HQ: Comcast, Cigna
Tỷ lệ thất nghiệp: 8,5%
Ngành dịch vụ tại Philadelphia có thể không bị tổn thương nghiêm trọng như các ngành kinh tế lớn hơn như ô tô, công nghệ và năng lượng. Thành phố này vẫn là một trung tâm tài chính hạng trung, nhưng họ có các công ty lớn "có thể chống đỡ trước suy thoái" như cable TV và các công ty dịch vụ doanh nghiệp như Aramark. Tỷ lệ thất nghiệp của thành phố này luôn thấp hơn tỷ lệ trung bình của quốc gia.
5. San Francisco
Số triệu phú: 147.400
Tỷ lệ gia tăng số triệu phú: 6,6%
Thay đổi về giá trị nhà ở: -15,3%
Fortune 500 HQ: McKesson, Wells Fargo
Tỷ lệ thất nghiệp: 9,3%
Nền kinh tế của thành phố San Francisco chịu cú đánh kép trong thời kỳ suy thoái. Các ngành công nghệ lớn bị tổn thương do nhu cầu phần mềm và dịch vụ internet giảm. Các ngân hàng lớn sa thải hàng ngàn nhân viên khi chứng khoán cầm cố sụp đổ trong ngành dịch vụ tài chính. Nền kinh tế địa phương cũng bị tổn thương nghiêm trọng, thị trường nhà ở và các công ty xây dựng vẫn chưa thể phục hồi.
4. Washington D.C.
Số triệu phú: 164.400
Tỷ lệ gia tăng số triệu phú: 7,9%
Thay đổi về giá trị nhà ở: +2,2%
Fortune 500 HQ: Danaher , Washington Post
Tỷ lệ thất nghiệp: 5,7%
Nhiều thị dân Washington đã may mắn trong thời suy thoái do chính phủ liên bang và quân đội không phải cắt giảm lực lượng lao động đáng kể. Nhưng trong thời gian tới có vẻ như việc này sẽ thay đổi do các chương trình thắt lưng buộc bụng. Hai nhà bảo lãnh các khoản vay nhà ở có hỗ trợ của chính phủ bị tổn thương nặng nề là Fannie Mae và Freddie Mac. Về cơ bản thì họ đã phá sản - nạn nhân của sự tụt dốc của thị trường nhà ở.
3. Chicago
Số triệu phú: 212.300
Tỷ lệ gia tăng số triệu phú: 7,1%
Thay đổi về giá trị nhà ở: -11,1%
Fortune 500 HQ: Boeing, Exelon
Tỷ lệ thất nghiệp: 9,5%
Chicago là một trong số ít các thành phố không dựa quá mức vào một hay hai ngành kinh tế để có sức mạnh về tài chính. Một báo cáo của Moody được xuất bản 7 năm về trước cho thấy Chicago có nền kinh tế đa dạng hơn bất kỳ thành phố nào của Mỹ. Các giao dịch kỳ hạn và các ngành thương mại tùy chọn của thành phố này không bị khủng hoảng tài chính làm tổn thương do vẫn duy trì được nhu cầu mua bán chứng khoán. Hai công ty lớn nhất tại Chicago là hai người khổng lồ dịch vụ đồ ăn McDonald's và Kraft - hai công ty dự báo suy thoái rất tốt, cũng giống như hai người khổng lồ về dịch vụ y tế Baxter và Abbott.
2. Los Angeles
Số triệu phú: 256.500
Tỷ lệ gia tăng số triệu phú: 8,8%
Thay đổi về giá trị nhà ở: -6,5%
Fortune 500 HQ: Northrup Grumman, Occidental Petroleum
Tỷ lệ thất nghiệp: 11,1
Los Angeles cũng có sơ sở kinh doanh đa dạng. Giải trí là một trong những ngành tạo nhiều công ăn việc làm nhất, cùng với giáo dục, chăm sóc sức khỏe và năng lượng. LA là quê hương của một trong những khu cảng năng động nhất trên thế giới. Thành phố này cũng là trung tâm ngành công nghiệp quốc phòng vốn bị ảnh hưởng rất ít bởi suy thoái do các nhu cầu quân sự của Mỹ tại nước ngoài.
1. New York
Số triệu phú: 720.000
Tỷ lệ gia tăng số triệu phú: 7,9%
Thay đổi về giá trị nhà ở: -3,5%
Fortune 500 HQ: JP Morgan, Verizon
Tỷ lệ thất nghiệp: 8,3%
Tài sản tại thành phố New York tăng và giảm cùng với ngành dịch vụ tài chính. Citigroup, JPMorgan, AIG, Morgan Stanley và Goldman Sachs đều có trụ sở tại đây. Bên cạnh đó còn có cả những công ty lớn bị phá sản như Bear Stearns and Lehman Bros. - hai công ty đã sa thải đa số nhân viên khi cuộc khủng hoảng tín dụng bắt đầu. Vết thương của NY không chỉ ở số người bị mất việc. Nhiều công việc này có mức lương rất hấp dẫn, tạo nên sức mạnh cho nền kinh tế của vùng. Ngành dịch vụ tài chính phục hồi khiêm tốn trong một năm rưỡi qua. Sự sụt giảm các hoạt động tài chính cá nhân và tổ chức gần đây, cùng với sự dai dẳng của các khoản nợ xấu có nghĩa là chu kỳ tiền tệ chưa được hoàn thành.