Ngân hàng châu Âu vào cuộc tăng vốn

(ĐTCK) Sau khoảng một năm hầu như “án binh bất động”, các ngân hàng châu Âu có vẻ đang bắt đầu công cuộc bổ sung vốn nhằm đáp ứng các quy định của Hiệp ước Basel III.
Nhiều ngân hàng lớn bị buộc phải ưu tiên dùng lợi nhuận để bổ sung vào vốn trước khi có thể chia cho cổ đông

Deutsche Bank vừa hoàn tất việc phát hành bổ sung 2,96 tỷ euro, tiếp sau một ngân hàng Đức khác là Commerzbank - tăng thêm 2,5 tỷ euro vốn trong tháng 3. Các ngân hàng Hy Lạp cũng đang trên đường huy động thêm vốn nhiều nhất có thể từ các nhà đầu tư thương mại nhằm bù lấp 21,7 tỷ euro thiếu hụt vốn chủ.

Trong vài tuần qua, hầu hết các ngân hàng lớn đã công bố “hoàn toàn đáp ứng” các tỷ lệ về vốn của Basel III trong báo cáo quý I của mình. Điều này phản ánh áp lực thị trường đối với các tổ chức tín dụng trong việc sớm đáp ứng các quy định sẽ dần có hiệu lực từ nay đến năm 2019.

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, các nhà đầu tư có xu hướng ưa chuộng ngân hàng nào có tỷ lệ vốn (trên tài sản rủi ro) cao, bất chấp mặt trái của việc tăng mức đệm vốn là thu nhập trên cổ phần ít đi. Điều này được minh chứng bằng việc giá cổ phiếu của Deusche Bank tăng 6% trong ngày 30/4, ngày ngân hàng này công bố năng lực vốn mới của mình, dù cổ phiếu của ngân hàng bị pha loãng 10%. Chuyện này rất khác so với ở Mỹ, nơi nhà đầu tư ngân hàng đã và đang đòi hỏi các ngân hàng như JPMorgan, Goldman Sachs và Citigroup chia cổ tức nhiều hơn.

Trên thực tế, 4 ngân hàng toàn cầu lớn có tỷ lệ vốn tốt nhất đều thuộc về châu Âu, gồm UBS, PNP Paribas, HSBC và Deutsche Bank, trong khi Mỹ chỉ có duy nhất Morgan Stanley. Nhưng tốp đầu nói trên che dấu một bức tranh hỗn tạp ở lục địa này. Theo các nhà phân tích của Citi, có một sự phân hóa dai dẳng giữa Bắc và Nam Âu. Đó là, trong khi các ngân hàng Bắc Âu tự hào về tỷ lệ vốn cấp 1 lên đến 17%, thì thậm chí các ngân hàng mạnh nhất của Tây Ban Nha cũng chỉ có tỷ lệ vốn cấp 1 từ 8% trở xuống.

Nhưng với nhiều ngân hàng, giá cổ phiếu hiện vẫn chỉ được giao dịch ở mức thấp hơn từ 20 - 30% giá trị sổ sách của các tài sản ròng, thậm chí đó là Deutsche Bank. “Không ngân hàng nào muốn phát hành thêm cổ phiếu ở mức định giá như vậy, đó là chi phí rất đắt”, giám đốc khu vực châu Âu của một ngân hàng Mỹ nói.

Về khả năng tăng vốn của các ngân hàng, đây có thể không phải là vấn đề nghiêm trọng ở Anh, nơi mà Barclays và các ngân hàng khác được dự báo sẽ khắc phục được bất kỳ lỗ hổng vốn nào bằng việc phát hành trái phiếu chuyển đổi. Cơ quan quản lý Anh cho phép điều này.

Ở phần còn lại của châu Âu, phát hành bổ sung không phải là cách được các ngân hàng ưa dùng. Thậm chí, những ngân hàng có tỷ lệ vốn thấp nhất lại dường như lẩn tránh cách làm này, dù đang có mức độ pha loãng cổ phiếu không đáng kể. Santander là một ví dụ. Nếu chỉ chia 4/5 cổ tức, Ngân hàng sẽ có thể tăng được 10 tỷ euro vốn trong vòng 2 năm tới. Nhưng cũng như các ngân hàng khác, trong đó có Lloyds, Santander đang chọn cách bán dần các tài sản kém thanh khoản.

Các ngân hàng Pháp như Crédit Agricole và Société Générale lại có xu hướng chọn cách làm khác. Các ngân hàng này được dự đoán sẽ tăng tỷ lệ vốn chủ yếu thông qua việc thay đổi cơ cấu hoạt động và đánh giá lại độ rủi ro của các tài sản.

Đó cũng là cách thức chính mà Deutsche sử dụng. Bằng cách vừa bán bớt các tài sản không cơ bản, vừa cơ cấu lại hoạt động theo mô hình mới, ngân hàng Đức đã nâng được tỷ lệ vốn của mình từ mức thấp hơn 6% vào cuối năm 2011 lên 8,8% cuối tháng 3/2013. Anshu Jain, đồng CEO của Deutsche, cho rằng, kết quả bước đầu đó là quan trọng, tạo cơ sở cho việc tăng tỷ lệ vốn thành công lên 9,6%.

Huw van Steenis, chuyên gia phân tích của Morgan Stanley, nói rằng, các ngân hàng đang có xu hướng tăng tỷ lệ vốn cấp 1 lên mức 10%. Con số này được xem là an toàn ở trên mức 9,5% như yêu cầu của Basel III đối với các ngân hàng toàn cầu lớn nhất, trước khi các ngân hàng này được phép chia cổ tức.

Tuy nhiên, một số nhà phân tích tin rằng, áp lực tăng vốn của các ngân hàng châu Âu có thể bị hạn chế bởi những yếu tố ‘linh hoạt’ trong bảng cân đối của các ngân hàng này. Các nhà quản lý đang ngày càng nghi ngờ giá trị của tỷ lệ vốn cấp 1, một tỷ lệ giữa vốn và các tài sản rủi ro, do sự không thống nhất trong cách đánh giá mức độ rủi ro giữa các ngân hàng và giữa các quốc gia.         


Quang Huy (báo chí nước ngoài)

Tin cùng chuyên mục