Có ý kiến cho rằng, nếu QTDN tốt thì trong khủng hoảng vừa qua, DN Việt Nam sẽ ít bị tác động hơn. Quan điểm của ông như thế nào?
Rất khó để có thể đưa ra mối quan hệ trực tiếp. Tuy nhiên, nếu nói cụ thể đến TTCK là thước đo của các nền kinh tế đang phát triển, thì chúng ta có thể thấy, TTCK tốt cho thấy nền kinh tế đang phát triển tốt và sự suy giảm của nền kinh tế cũng đồng thời là sự suy giảm của TTCK. Chúng tôi đã có cuộc khảo sát 147 công ty, tập đoàn toàn cầu, quan điểm được tóm tắt dưới các điểm chính sau: 82% nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cao hơn giá thị trường cho các DN có QTDN tốt hoặc có quản trị rủi ro hiệu quả; 61% không sẵn sàng bỏ thêm tiền đầu tư vào những DN có đánh giá quản trị rủi ro hoặc QTDN kém, mặc dù tên tuổi công ty là rất lớn; 41% sẵn sàng rút lại khoản đầu tư đã bỏ ra trong trường hợp công ty không chứng minh được đã áp dụng QTDN và quản trị rủi ro trong điều hành. Từ những số liệu này, chúng tôi khẳng định tầm quan trọng, ảnh hưởng của QTDN đối với giá trị thị trường, trong tăng trưởng kinh tế, nhất là TTCK, thị trường vốn.
Theo ông, QTDN tại Việt Nam hiện ở mức độ nào?
Rất sơ khai. Điều này cũng dễ hiểu, vì các bước ban đầu sẽ không phải từ việc đưa ra các quy định hoặc các điều luật cụ thể, mà phải bắt đầu từ việc đưa ra hướng dẫn hoặc khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng QTDN. Hiện tại, các cơ quan quản lý nhà nước đang nghiên cứu và bắt đầu đưa ra hướng dẫn. Thực tế, đó cũng là các bước giống như nhiều nước khác, tức là bắt đầu từ việc hướng dẫn, khuyến khích. Sau đó, tới thời điểm nhất định sẽ đưa ra các yêu cầu cụ thể, bắt buộc phải tuân thủ.
Các DN đi tiên phong trong QTDN phần lớn mang nhu cầu tự thân nhiều hơn, hoặc là khi họ có áp lực từ phía đối tác nước ngoài, đối tác chiến lược, đặc biệt là ngân hàng, DN niêm yết. Còn DNNN, DN gia đình hoặc các công ty đại chúng chưa niêm yết thì QTDN mới bắt đầu được quan tâm, chứ chưa thực sự được triển khai. Cần có những thông tin chia sẻ nhiều hơn để các DN cảm thấy đây là việc họ cần chủ động làm, thay vì chờ quyết định, quy định bắt buộc phải tuân thủ.
Như vậy, quá trình thay đổi nhận thức cũng như triển khai QTDN sẽ rất phức tạp?
Không, tôi cho rằng, quá trình này tương đối đơn giản, nhưng vấn đề chính cần nhìn nhận là quản trị rủi ro có hay không? Đó không phải là điểm làm gián đoạn việc điều hành DN, không làm cản trở và chậm đi quá trình ra quyết định. Ví dụ như khi thiết kế vận hành một chiếc xe đua thể thao công thức 1, tốc độ rất cao, nhưng để người lái duy trì tốc độ cao như vậy một cách ổn định thì bản thân chiếc xe phải luôn có một hệ thống phanh tốt, khi nào cần sẽ kiểm soát được xe ngay. Tương tự như vậy, với các DN đang phát triển, họ cần có một bộ phận tương tự là QTDN, quản trị rủi ro, để các yếu tố không chắc chắn được phát hiện và giám sát kịp thời, giành tối đa các cơ hội trong quá trình vận hành, giảm thiểu rủi ro. Nhận thức được vấn đề này sẽ thúc đẩy quá trình triển khai QTDN nhanh hơn rất nhiều.
Quá trình thay đổi nhận thức này liệu có được thực hiện nhanh hơn, bởi các DN hiện nay gặp rất nhiều khó khăn, thưa ông?
Nhanh hay chậm trước hết phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản. Thứ nhất, quan điểm từ các cơ quan quản lý, điều hành sẽ đưa ra những quy định bắt buộc để DN tiến hành, chắc chắn thúc đẩy quá trình đó nhanh hơn. Thứ hai, liên quan đến nhận thức của DN xoay quanh 5 nguyên tắc trong QTDN mà DN nhận thức được những yêu cầu này sẽ đẩy nhanh quá trình QTDN tốt. Cụ thể, một là đảm bảo tính công bằng; hai là, đảm bảo tính trách nhiệm, phân rõ trách nhiệm trong các cấp của DN; ba là, đảm bảo tính chịu trách nhiệm; bốn là, tính độc lập ở các lĩnh vực điều hành và giám sát; năm là, tính minh bạch của thông tin.
Theo ông, vai trò của cơ quan quản lý trong quá trình phát triển QTDN như thế nào?
Phát triển QTDN chính là đưa ra các quy định của công ty niêm yết. Quyết định 12 đã quy định về QTDN trong các DN niêm yết, nhưng hướng dẫn cụ thể, chi tiết chưa đầy đủ. Bên cạnh đó là thúc đẩy QTDN tới các DN có vốn của nhà nước, thông qua các công ty cổ phần hoặc công ty TNHH một thành viên. Bộ Tài chính và các cơ quan quản lý cần đưa ra những quy định chặt chẽ hơn, cũng như các yêu cầu để DN phải có sự thay đổi về QTDN, có thể kết hợp song song với quá trình tái cấu trúc DN. Bởi lẽ, một trong những bước để tái cấu trúc là thay đổi QTDN. Còn đối với các ngân hàng, dẫu sao cũng đi trước một bước trong việc đưa ra các quy định về quản trị cũng như kiểm soát nội bộ. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng có những đối tác là các ngân hàng quốc tế và đưa ra các thông lệ tốt, đó cũng là lợi thế của ngân hàng.