Trong đó, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,7% so với cùng kỳ, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 418,475 nghìn tỷ đồng, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước đạt 912 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 22,6% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng ước đạt 42,3 tỷ USD, tăng 30,3% so với cùng kỳ; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 49 tỷ USD, tăng 25,8% so với cùng kỳ năm 2010…
Tuy nhiên, nhiều yếu tố bất ổn vĩ mô vẫn còn hiện hữu, đặc biệt là lạm phát (tính theo năm) đã lên tới 20,82%; mặt bằng lãi suất còn rất cao đang gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh; nhập siêu lên tới 6,65 tỷ USD...
TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia nhận định, những yếu tố gây bất ổn kinh tế vĩ mô hiện nay được bắt nguồn từ năm 2007 khi dòng vốn nước ngoài ồ ạt đổ vào Việt Nam, làm tín dụng bùng nổ từ 25 - 26%/năm lên 56 - 57%/năm khiến lạm phát bùng lên, VND mất giá mạnh, thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường vốn gặp rất nhiều khó khăn. Bước vào giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới, dòng vốn ngoại lại rút ra mạnh làm cán cân thanh toán thâm hụt năng nề, dự trữ ngoại tệ sụt giảm, lòng tin của dân chúng vào đồng tiền Việt Nam ở mức thấp.
"Đặc biệt, trong 3 năm qua, Việt Nam là quốc gia duy nhất trong khu vực Đông Nam Á 3 lần bị hạ điểm tín nhiệm tài chính quốc tế. Hiện nay, Việt Nam được xếp hạng ngang Mông Cổ và Bangladesh", TS. Nghĩa nhấn mạnh.
Tuy nhiên, theo TS. Nghĩa, bất ổn kinh tế vĩ mô của Việt Nam không chỉ do tác động bởi các nhân tố ngoại lai mà có một phần nguyên nhân từ cách thức điều hành. Đó là tình trạng quay trở lại sử dụng những công cụ hành chính thay cho các công cụ mang tính thị trường, nên hàng loạt chương trình cải cách trong hệ thống ngân hàng, DNNN bị đình trệ. Đặc biệt, việc lạm dụng các công cụ hành chính làm hoạt động của hệ thống ngân hàng bị méo mó. Hiện nay, có hiện tượng là nhiều NHTM thích công cụ hành chính bởi nó có thể bị vô hiệu hoá như trần lãi suất, hạn mức tín dụng… và không thích công cụ thị trường, vì với những công cụ này thì không thể "lách" một cách dễ dàng.
Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương, TS. Võ Trí Thành cho rằng, kinh tế vĩ mô Việt Nam là một bức tranh khó phân định sau 4 tháng thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ. Bởi nếu nhìn vào con số do Tổng cục Thống kê công bố thì tình hình vẫn khá ổn, nhưng "tiếng kêu" của các DN là rất nhiều.
Ông Thành nhận xét, nền kinh tế đã có những phản ứng tích cực với Nghị quyết 11, nhưng sự kiên quyết thực hiện chính sách điều hành thận trọng của các cơ quan quản lý vẫn bị nghi ngờ. Ví dụ, thời gian qua người dân đã bắt đầu bán USD để chuyển sang gửi tiết kiệm bằng VND, nhưng họ chỉ gửi ngắn hạn để "dễ bề xoay xở".
Để giải quyết những bất ổn kinh tế vĩ mô Việt Nam trong ngắn và trung hạn, TS. Nghĩa cho rằng, cách nhìn nhận và điều hành kinh tế vĩ mô cần sâu sát, đồng bộ và nhất quán hơn. Cụ thể, theo ông Nghĩa, cần có cơ chế kiểm soát, cải thiện căn bản hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đang hoạt động kém hiệu quả, gây tích tụ nợ xấu cho bản thân các đơn vị này và ngân hàng. Đồng thời, giải quyết rốt ráo vấn đề nợ công đang tăng nhanh, bởi trong 3 năm qua, nợ công tăng bằng 7 - 8 năm trước đó với chi phí nợ lớn, kỳ hạn ngày càng ngắn. Mặt khác, phải giải quyết triệt để tình trạng USD hóa và vàng hóa trong hệ thống ngân hàng và cả nền kinh tế.
Nhìn chung, các chuyên gia đều cho rằng, trong thời gian tới, chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô vẫn phải là mục tiêu được ưu tiên hàng đầu. Thông điệp phải rất rõ ràng, nhất quán để các nhà đầu tư và cộng đồng xã hội tin tưởng vào quyết tâm này. Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa chưa nên vội nới lỏng và phải phối hợp chặt chẽ với nhau. Phấn đấu đến trung hạn, thâm hụt ngân sách phải giảm xuống 3%, tăng trưởng tín dụng phải dưới 15%/năm. Khi đạt được những chỉ tiêu này, nền kinh tế mới có thể phát triển ổn định, bền vững.