Theo một số nguồn tin, chiếm phần lớn trong con số 343 tỷ đồng bán ròng là giao dịch bán của các quỹ ETF, cụ thể là Quỹ FTSE Vietnam Index do Deutsche Bank quản lý và Quỹ Vietnam Market Vector (VNM) do Van Eck quản lý.
Ông Trần Tài, phụ trách quản lý danh mục đầu tư Quỹ Asia Vantage Global Ltd ước tính, FTSE đã thoái hơn 5,1 triệu USD (107 tỷ đồng) trong tháng 7, còn VNM thoái hơn 11 triệu USD (231 tỷ đồng).
Thực tế, trong suốt tháng 7, Deutsche Bank AG, đơn vị quản lý FTSE liên tục công bố thông tin bán bớt cổ phiếu ở một loạt mã như GMD, HPG, HAG, DPM, PET, DRC, NTL (xem bảng). Dựa theo giá cổ phiếu trong thời gian công bố thông tin, giá trị bán này nằm trong khoảng 108 - 125 tỷ đồng.
Theo số liệu thống kê của vfpress.vn, số chứng chỉ quỹ của VNM đến cuối tháng 7 đã giảm từ 19,95 triệu chứng chỉ hồi đầu tháng xuống 19,4 triệu chứng chỉ. Với giá thị trường khoảng 18 USD/chứng chỉ quỹ, số tiền rút ra của quỹ này vào khoảng 10 triệu USD.
Mặc dù các quỹ ETF có động thái bán ròng, nhưng một số chuyên gia nhận xét, kinh tế vĩ mô Việt Nam trong mắt NĐT nước ngoài vẫn khá ổn định khi tỷ giá, lạm phát đều được kiểm soát tốt.
“Cảm nhận của NĐT nước ngoài về Việt Nam tốt hơn năm ngoái. Nhiều NĐT nước ngoài mà chúng tôi nói chuyện tỏ ra quan tâm đến việc đa dạng hóa danh mục của họ ra ngoài các thị trường đắt đỏ như Thái Lan, Philippines và Indonesia, sang các thị trường rẻ hơn như Việt Nam”, ông Michel Tosto, Giám đốc Giao dịch chứng khoán - Khách hàng tổ chức của CTCK Bản Việt cho biết.
Theo ông Tosto, tâm lý NĐT nước ngoài sẽ tiếp tục cải thiện trong những tháng tới, đặc biệt khi họ được phép sở hữu cổ phiếu không có quyền biểu quyết và thị trường có thêm các doanh nghiệp lớn trong ngành thực phẩm và đồ uống, viễn thông và chăm sóc sức khỏe lên niêm yết.
Tuy nhiên, sau khi Ngân hàng Trung ương Mỹ công bố (trong tháng 6) sẽ giảm quy mô mua trái phiếu và quy mô bơm tiền vào kinh tế Mỹ trong các tháng tới, NĐT nước ngoài có xu hướng rút tiền ra khỏi các thị trường cận biên và thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam, dù trong dài hạn, TTCK Việt Nam vẫn được cho là hấp dẫn khi giá cổ phiếu đang ở mức thấp và nền kinh tế khó có thể khó khăn hơn.
“Khi TTCK toàn cầu giảm mạnh, thông thường các NĐT nước ngoài cần bán bớt các khoản đầu tư ở những TTCK biên (Frontier Markets), bao gồm Việt Nam”, ông Phạm Ngọc Bích, Giám đốc phụ trách khách hàng tổ chức Khối Dịch vụ chứng khoán, CTCK Sài Gòn nói. Ông Bích cho biết, trong tháng 6, các quỹ ETF rút 75 triệu USD ra khỏi thị trường cổ phiếu; trong tháng 6 và 7, khối ngoại rút gần 10.000 tỷ đồng ra khỏi thị trường trái phiếu Việt Nam.
Trước các diễn biến từ thị trường Trung Quốc, ông Tài nhận định: “Các tín hiệu từ nền kinh tế Trung Quốc sẽ ảnh hưởng nhiều tới các nước trong khu vực và TTCK Việt Nam cũng bị ảnh hưởng theo. Ngoài ra, với việc lãi suất đầu vào giảm mạnh, dòng vốn kinh doanh chênh lệch lãi suất (carry trade) sẽ đảo chiều, rủi ro lớn là họ có thể bán cả trái phiếu và cổ phiếu. Vì vậy, thị trường có thể bị chi phối bởi dòng vốn ngoại trong quý III”.
Diễn biến giao dịch của NĐT nước ngoài trên HOSE (Nguồn: HOSE)
| Tháng |
Khối lượng giao dịch (cổ phiếu) |
Giá trị giao dịch (tỷ đồng) |
|||||||
| Toàn thị trường |
NĐTNN mua |
NĐTNN bán |
mua - bán ròng |
Toàn thị trường |
NĐTNN mua |
NĐTNN bán |
mua - bán ròng |
||
| 7 |
893.972.050 |
62.596.910 |
79.710.923 |
-17.114.013 |
19.646 |
2.831 |
3.174 |
-343 |
|
| 6 |
1.346.470.419 |
113.442.390 |
204.670.699 |
-91.228.309 |
2.392 |
3.630 |
5.401 |
-1.771 |
|
| 5 |
1.487.613.370 |
126.427.173 |
107.919.529 |
18.507.644 |
25.514 |
4.042 |
2.746 |
1.296 |
|
| 4 |
913.994.195 |
105.159.434 |
96.205.274 |
8.954.160 |
17.279 |
3.144 |
2.857 |
287 |
|
| 3 |
1.037.299.305 |
140.903.854 |
108.724.520 |
32.179.334 |
17.881 |
4.154 |
2.987 |
1.168 |
|
| 2 |
1.140.242.832 |
87.523.268 |
82.009.858 |
5.513.410 |
17.258 |
2.597 |
2.598 |
-1 |
|
| 1 |
1.805.689.186 |
205.198.802 |
84.955.165 |
120.243.637 |
25.722 |
5.375 |
2.854 |
2.521 |
Các giao dịch được công bố của Deutsche Bank trong tháng 7 trên HOSE
| Mã |
Số lượng CP mua/bán |
Ngày công bố |
Giá thấp nhất |
Giá cao nhất |
GTGD thấp nhất (tỷ đồng) |
GTGD cao nhất (tỷ đồng) |
| GMD |
-128.710 |
15/7 |
25.300 |
28.600 |
-3,256 |
-3,681 |
| HPG |
-2.184.650 |
11/7 |
27.000 |
31.500 |
-58,985 |
-68,816 |
| PVD |
-1.993.670 |
11/7 |
45.000 |
49.000 |
-89,715 |
-97,690 |
| HAG |
-871.897 |
12/7 |
20.500 |
23.700 |
-17,874 |
-20,664 |
| DPM |
-152.230 |
11/7 |
38.800 |
45.900 |
-5,906 |
-6,987 |
| PET |
-190.300 |
11/7 |
20.300 |
25.700 |
-3,863 |
-4,891 |
| DRC |
-91.800 |
15/7 |
36.700 |
40.700 |
-3,369 |
-3,736 |
| NTL |
-252.330 |
15/7 |
12.600 |
14.900 |
-3,179 |
-3,760 |
| CSM |
2.183.720 |
15/7 |
32.300 |
35.200 |
70,534 |
76,867 |
| VSC |
204.026 |
10/7 |
35.000 |
40.000 |
7,141 |
8,161 |
| Tổng giá trị |
-108,471 |
-125,197 |
* Giá thấp nhất và cao nhất của cổ phiếu xét trong giai đoạn từ 1/6 đến ngày công bố thông tin. Nguồn: HOSE