Theo số liệu của BTC, DNNN hiện nắm giữ gần 70% tài sản cố định của Nhà nước, 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, gần 50% tổng vốn đầu tư của Nhà nước, 70% tổng vốn vay các ngân hàng nước ngoài và gần 60% tổng lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại quốc doanh... Nhưng hàng năm, hơn 2.100 DNNN đang sử dụng 1,7 triệu lao động chỉ đóng góp 40% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), 40% tổng thu ngân sách nhà nước. Bên cạnh một số DN hoạt động trong lĩnh vực độc quyền, có lợi nhuận cao, còn không ít DN kinh doanh không hiệu quả hay thua lỗ (tỷ suất lợi nhuận trên vốn thấp). BTC nhận định, có thể nói, sự đóng góp của DNNN chưa tương xứng với nguồn lực Nhà nước đã đầu tư và những thuận lợi mà DNNN có được so với các thành phần kinh tế khác. Tại nhiều DN, vốn nhà nước đã và đang bị mất dần. Chính vì vậy, với việc xây dựng Quy chế này, BTC nhằm mục đích nắm bắt kịp thời thực trạng hoạt động của DNNN để giúp DN khắc phục tồn tại trong hoạt động kinh doanh và tài chính, từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn; phân loại DNNN và có biện pháp xử lý kịp thời đối với những DN, người quản lý, điều hành yếu kém để DN kinh doanh thua lỗ, hoạt động không có hiệu quả.
Theo Dự thảo, DNNN chỉ cần rơi vào một trong các trường hợp sau sẽ thuộc diện “quản lý đặc biệt”, gồm kinh doanh thua lỗ 2 năm liên tiếp; thua lỗ 1 năm, nhưng mất từ 30% vốn chủ sở hữu trở lên; giữa 2 năm lỗ có 1 năm có lãi; có lãi nhưng còn lỗ luỹ kế chưa có nguồn bù đắp và kinh doanh hoà vốn trong 3 năm liên tục. Như vậy, nếu căn cứ vào những tiêu chí này sẽ có hàng loạt DN thuộc đối tượng “kiểm soát đặc biệt”. Cụ thể, theo số liệu của BTC, tính đến cuối năm 2005, đầu năm 2006, cả nước còn trên 430 DNNN kinh doanh thua lỗ và 194 DN kinh doanh hoà vốn. Ngoài ra, còn không ít DN khác đang nằm giữa “ranh giới” lỗ - lãi mà nếu phân định rạch ròi thì số DN, đặc biệt là DN hoạt động trong ngành nông nghiệp, giấy, dệt, cà phê, dâu tằm tơ, mía đường, thuỷ sản... nghiêng về phần lỗ nhiều hơn. Chỉ tính riêng trong năm 2005, tổng số lỗ của khối DNNN đã gần 2.000 tỷ đồng, tổng số lỗ luỹ kế lên tới 6.549 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2000, mặc dù trong giai đoạn 2001 - 2005, Chính phủ đã sử dụng hàng loạt chính sách xoá nợ thuế, các khoản phải đóng góp vào ngân sách, các khoản nợ khó đòi cũng như chuyển đổi hàng ngàn DNNN thông qua cổ phần hoá, giao, bán khoán kinh doanh (theo số liệu của Ban chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DN Trung ương thì trong giai đoạn này đã thực hiện sắp xếp 3.830 DNNN, bằng 68% số DNNN hiện có vào năm 2001).
Dự thảo Quy chế đưa ra 7 tiêu chí giám sát như tình hình sử dụng vốn và tài sản, vốn nhà nước, tài sản cố định, nợ phải thu, nợ phải trả; tình hình công nợ và khả năng thanh toán nợ; tình hình sản xuất, tiêu thụ, tồn kho các sản phẩm chính... Với những tiêu chí này xem ra danh sách DN nằm trong diện giám sát của Quy chế không dừng ở những DN kinh doanh thua lỗ, DN kinh doanh hoà vốn liên tục 3 năm, bởi tổng số nợ phải thu của DNNN hiện tương đương 55% tổng số vốn, trong đó riêng nợ phải thu khó đòi đã lên tới 3.756 tỷ đồng. Nợ phải thu khó đòi của DNNN liên tục tăng trong 5 năm trở lại đây với mức tăng bình quân 8,7%/năm. Nợ phải trả của khối DN này vào thời điểm cuối năm 2005 đã lên tới gần 449.200 tỷ đồng (trong đó nợ quá hạn là 5.548 tỷ đồng).
Theo Dự thảo, chỉ những DN nằm trong danh sách giám sát 2 năm liên tục thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo giám sát (hàng quý, hàng năm, DN phải lập báo cáo với 7 chỉ tiêu sẽ được BTC cụ thể hoá bằng thông tư hướng dẫn và báo cáo tài chính gửi đại diện chủ sở hữu và cơ quan tài chính cùng cấp) có kết quả kinh doanh tăng liên tục, không còn lỗ mới được ra khỏi danh sách giám sát. Sau khi thực hiện giám sát 2 năm liên tục mà hoạt động sản xuất - kinh doanh của DN vẫn kém hiệu quả, vẫn thua lỗ thì phải chuyển đổi sở hữu (cổ phần hoá, giao, bán) hoặc giải thể, phá sản (nếu lâm vào tình trạng không có khả năng thanh toán nợ đến hạn). Như vậy, trong tương lai không xa sẽ có hàng loạt DNNN buộc phải giải thể, phá sản do nợ nần.
Cùng với việc “thanh lọc” DNNN, Quy chế giám sát hoạt động của DNNN kinh doanh thua lỗ, hoạt động không có hiệu quả còn thực hiện “thanh lọc” người quản lý, điều hành yếu kém. Cụ thể, theo Dự thảo, nếu DN không thực hiện chế độ báo cáo giám sát thì người quản lý, điều hành không được lên lương, không được khen thưởng. Nếu DN không thực hiện các khuyến nghị của chủ sở hữu khi thực hiện giám sát, để DN tiếp tục kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ thì người quản lý, điều hành sẽ bị cách chức.