Trả lời:
Về cơ bản, Điều 67 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định về việc chi cổ tức trong CTCP như sau:
CTCP được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2005 nói chung chỉ được chi trả cổ tức cho cổ đông khi công ty đó về nguyên tắc phải kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật và ngay khi trả hết số cổ tức đã định, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả.
Để tiến hành thực hiện việc chi trả cổ tức, HĐQT của CTCP đó phải lập danh sách cổ đông được nhận cổ tức, xác định mức cổ tức được trả đối với từng cổ phần, thời hạn và hình thức trả chậm nhất ba mươi ngày trước mỗi lần trả cổ tức. Luật Doanh nghiệp đưa ra thời hạn là thông báo về việc chi trả cổ tức phải được gửi đến tất cả cổ đông chậm nhất mười lăm ngày trước khi thực hiện chi trả cổ tức. Và thông báo này phải thể hiện rõ các thông số cơ bản như: tên công ty, tên, địa chỉ của cổ đông, số cổ phần từng loại của cổ đông, mức cổ tức đối với từng cổ phần và tổng số cổ tức mà cổ đông đó được nhận, thời điểm và phương thức trả cổ tức và một số thông số khác không trái với quy định của pháp luật hiện hành.
Về nguyên tắc, đối với trường hợp cổ đông chuyển nhượng cổ phần của mình trong thời gian giữa thời điểm kết thúc lập danh sách cổ đông và thời điểm trả cổ tức, thì người chuyển nhượng là người nhận cổ tức từ công ty.
Về việc thu hồi tiền thanh toán cổ phần mua lại hoặc cổ tức, Điều 68 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định như sau:
Trường hợp việc thanh toán cổ phần mua lại trái với quy định tại khoản 1 Điều 66 của luật này hoặc trả cổ tức trái với quy định tại khoản 1 Điều 67 của luật này, thì tất cả cổ đông phải hoàn trả cho công ty số tiền hoặc tài sản khác đã nhận: trường hợp có cổ đông không hoàn trả được cho công ty thì cổ đông đó và thành viên HĐQT phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về nợ của công ty.