Nhà thầu nước ngoài là những tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam, hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thỏa thuận hoặc cam kết giữa họ với tổ chức, cá nhân Việt Nam.
Theo quy định tại Thông tư 134/2008/TT-BTC ngày 31/12/2008 của Bộ Tài chính (Thông tư 134), áp dụng từ ngày 1/1/2009, nhà thầu nước ngoài là tổ chức phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp, nhà thầu nước ngoài là cá nhân phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân theo các phương pháp sau:
Phương pháp 1: Nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trên cơ sở kê khai doanh thu, chi phí để xác định thu nhập chịu thuế.
Điều kiện để áp dụng phương pháp này là:
- Nhà thầu nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam, hoặc là đối tượng cư trú tại Việt Nam;
- Thời hạn kinh doanh tại Việt Nam theo hợp đồng nhà thầu từ 183 ngày trở lên kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực; và
- Áp dụng chế độ kế toán Việt Nam.
Nếu nhà thầu nước ngoài không đáp ứng được một trong các điều kiện trên thì sẽ áp dụng phương pháp 2 dưới đây.
Phương pháp 2 (hay còn gọi là phương pháp ấn định): Nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ phần trăm tính trên doanh thu.
| |
| Ông Phạm Đình Tuấn là Chủ nhiệm Cao cấp Dịch vụ Thuế của Ernst&Young Việt Nam, làm việc tại Văn phòng Hà Nội. Ông Tuấn có hơn 10 năm kinh nghiệm làm việc tại Ernst&Young Việt Nam trong các lĩnh vực Thuế thu nhập cá nhân, Thuế giá trị gia tăng, Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế nhà thầu nước ngoài… Là hội viên của Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh Quốc (ACCA) và Kiểm toán viên Việt Nam, cử nhân luật và cử nhân kinh tế, ông Tuấn có nhiều năm kinh nghiệm và sự hiểu biết sâu sắc về môi trường kinh doanh của Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực thuế và các chính sách đầu tư. |
Hai phương pháp nộp thuế trên khi áp dụng vào thực tế đã bộc lộ nhiều bất cập như sau:
- Nếu áp dụng Phương pháp 1 thì nhà thầu nước ngoài có thể được hoàn thuế giá trị gia tăng do các nhà thầu phụ Việt Nam tính trên hóa đơn phát hành cho nhà thầu. Tuy nhiên, nhà thầu nước ngoài sẽ gặp khó khăn đối với thuế thu nhập doanh nghiệp vì phải áp dụng chế độ kế toán Việt nam, tổ chức bộ phận làm kế toán, lưu giữ hóa đơn, chứng từ phát sinh trong và ngoài Việt Nam. Cơ quan thuế cũng gặp khó khăn trong việc xác định thu nhập chịu thuế khi xác định chi phí hợp lý hợp lệ đối với các chi phí phát sinh ngoài Việt Nam.
- Nếu áp dụng Phương pháp 2 thì cả nhà thầu nước ngoài và cơ quan thuế sẽ thuận lợi trong việc tính và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo phương pháp này thì thuế giá trị gia tăng đầu vào của nhà thầu sẽ không được khấu trừ và nhà thầu sẽ phải chịu toàn bộ chi phí này.
Từ ngày 31/12/2008 trở về trước, theo Thông tư 05/2005/TT-BTC ngày 11/1/2005, nhà thầu nước ngoài còn có thể áp dụng phương pháp nộp thuế thứ 3, tức là nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ phần trăm tính trên doanh thu. Thực ra đây là phương pháp kết hợp giữa Phương pháp 1 và Phương pháp 2. Tuy nhiên, phương pháp này đã không còn được phép áp dụng theo quy định tại Thông tư 134.
Bất cập của hai phương pháp tính thuế theo Thông tư 134 được nêu lên trong các cuộc họp của Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam gần đây và đã được Bộ Tài chính tiếp thu. Ngày 9/10/2009, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 197/2009/TT-BTC (Thông tư 197) để sửa đổi, bổ sung những quy định của Thông tư 134, nhằm giải quyết các bất cập đã nêu về phương pháp nộp thuế nhà thầu.
Theo quy định tại Thông tư 197, nhà thầu nước ngoài có thể tiếp tục áp dụng phương pháp nộp thuế thứ 3, tức là nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ phần trăm tính trên doanh thu. Điều kiện để áp dụng phương pháp 3 là nhà thầu nước ngoài phải đáp ứng hai điều kiện (i) và (ii) của Phương pháp 1, tức là phải có cơ sở thường trú tại Việt Nam, hoặc là đối tượng cư trú tại Việt Nam, và thời hạn kinh doanh của nhà thầu tại Việt Nam theo hợp đồng nhà thầu phải từ 183 ngày trở lên kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực.
Cách tính thuế này thuận lợi cho nhà thầu, cơ quan thuế và bên đối tác Việt Nam ký hợp đồng. Đối với nhà thầu, chi phí mua và phát hành hóa đơn, lưu giữ các hợp đồng và chứng từ mua hàng hóa, kê khai nộp thuế giá trị gia tăng không quá cao. Cơ quan thuế cũng không gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm tra hóa đơn, chứng từ. Thuế thu nhập doanh nghiệp được tính theo tỷ lệ phần trăm trực tiếp trên doanh thu, nên việc lưu giữ chứng từ và kiểm tra các chi phí phát sinh trong và ngoài Việt Nam là không cần thiết.
Thông tư 197 cũng quy định rõ, trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ khi ký hợp đồng, bên Việt Nam ký hợp đồng với nhà thầu nước ngoài phải thông báo với cơ quan thuế về việc nhà thầu nước ngoài trực tiếp đăng ký và thực hiện nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp 3 là khấu trừ và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu chịu thuế. Nếu bên Việt Nam không đăng ký trong thời hạn quy định, các nhà thầu nước ngoài có khả năng sẽ không được áp dụng phương pháp nộp thuế này.